PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC

Xem xét hệ thống pháp luật quốc gia

Từ khi Việt Nam giải phóng vào ngày 30/9/1945, đất nước đã phát triển hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa dựa trên hệ thống luật dân sự, với một số sửa đổi lớn từ hệ tư tưởng Mác-Lê-nin. Hệ thống pháp luật hiện hành Việt Nam có những đặc điểm sau:

  • Pháp luật là nguồn luật quan trọng nhất;
  • Tòa án là cơ quan cấp dưới của cơ quan lập pháp và phải đưa ra các quyết định theo quy định luật pháp; và
  • Đảng Cộng sản là Đảng chính trị duy nhất tại Việt Nam, đề ra các chính sách, có thể quyết định thay đổi các điều luật trong tương lai.

PHÁP LUẬT & GIÁ TRỊ PHÁP LÝ:

Năm 2015, để tổ chức lại hệ thống pháp luật của Việt Nam, Quốc hội đã thông qua Luật số 80/2015/QH13 về việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật, có hiệu lực từ tháng 7/2016 (Luật 80).

Luật 80 có chứa các quy định về các loại hình văn bản quy phạm pháp luật và quy trình xây dựng pháp luật, bao gồm nhiều loại văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý khác nhau.

Điều 4 Luật 80 quy định cụ thể và phân loại các văn bản quy phạm pháp luật thành 15 mức giá trị, trong đó Hiến pháp có hiệu lực cao nhất.

Danh sách dưới đây đưa ra một số văn bản pháp luật thường gặp trong hệ thống pháp luật Việt Nam, với hiệu lực pháp luật từ cao xuống thấp:

  1. Hiến pháp;
  2. Bộ luật, luật và nghị quyết của Quốc hội;
  3. Pháp lệnh và Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
  4. Lệnh và Quyết định của Chủ tịch nước;
  5. Nghị định của Chính phủ;
  6. Quyết định của Thủ tướng;
  7. Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án tối cao;
  8. Thông tư của các Bộ trưởng/Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
  9. Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh;
  10. Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

CÁC ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ:

Các điều ước quốc tế đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển hệ thống pháp luật Việt Nam, là một nguồn của pháp luật. Một hiệp ước quốc tế trở thành nguồn của pháp luật sau khi được Quốc hội phê chuẩn. Một số văn bản quy phạm pháp luật được ban hành để giải thích, nội luật hóa các quy định của hiệp ước vào pháp luật nội địa và thay thế cho các quy định hiện hành trái với các hiệp ước đã được phê chuẩn. Cuối cùng, các cơ quan có thẩm quyền thấp hơn của chính phủ sẽ đưa ra các quyết định dựa trên cả hiệp định đã phê duyệt và các văn bản pháp luật mới được ban hành để thực hiện.

MÔI TRƯỜNG PHÁP LÝ:

Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước đang có những nỗ lực to lớn để cải thiện môi trường pháp lý, phát triển pháp luật, đặc biệt là pháp luật về kinh doanh, để biến Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn của các nhà đầu tư. Việc cải cách pháp luật được thực hiện liên tục để tự do hóa môi trường kinh doanh, và quan trọng là cơ cấu lại nền kinh tế để cải thiện tăng trưởng, năng suất và khả năng cạnh tranh.

PHÁP LUẬT TRONG NƯỚC:

Ngày 01/01/2017 là một ngày quan trọng khi Bộ luật Dân sự mới năm 2015 (Bộ luật Dân sự) bắt đầu hiệu lực. Bộ luật Dân sự này dự kiến sẽ trở thành nền tảng cho tất cả các pháp luật điều chỉnh quan hệ dân sự và kinh doanh, nhằm tăng cường tính nhất quán trong hệ thống pháp luật của Việt Nam và bảo vệ tốt hơn quyền dân sự của các chủ thể.

Ví dụ, Bộ luật Dân sự nêu rõ rằng tất cả quy định của các luật khác không được mâu thuẫn với các quy định của Bộ Luật Dân sự.

Trong trường hợp có xung đột pháp luật, các quy định của Bộ luật Dân sự sẽ có hiệu lực. Quy định này không tồn tại trong Bộ luật Dân sự cũ năm 2005.

Ngoài ra, đây là lần đầu tiên Bộ Luật Dân sự quy định Tòa án Việt Nam không được từ chối giải quyết các vấn đề dân sự vì không có quy định pháp luật hiện hành nào điều hành các vấn đề này. Bộ luật Dân sự cũng cho phép các Tòa án đưa ra quyết định dựa trên Án lệ của Tòa án Tối cao hoặc dựa trên nguyên tắc công bằng khi không có quy định, phong tục hoặc các luật tương tự có thể áp dụng để giải quyết vấn đề pháp lý.

Một điểm quan trọng khác là Luật Sửa đổi và Bổ sung Luật Đầu tư có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2017. Số lượng các ngành nghề kinh doanh đầu tư có điều kiện đã giảm từ 267 xuống còn 243. Luật này cho thấy những nỗ lực của nhà nước để xoá bỏ các rào cản pháp lý và khuyến khích đầu tư trong lĩnh vực tư tại Việt Nam. Năm 2017, theo Nghị quyết 22/2016/QH14 ban hành ngày 29/7/2016, Quốc hội dự kiến thông qua một đạo luật mới để hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nước. Luật này dự kiến sẽ trở thành khuôn khổ pháp lý khuyến khích kinh doanh.

CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO:

Việt Nam đã cam kết thực hiện một số Hiệp định Thương mại Tự do (Hiệp định FTA), thu hút các nhà đầu tư và thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế. Ngoài việc tham gia Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và Cộng đồng Kinh tế ASEAN, Việt Nam đã ký kết 12 Hiệp định FTA với nhiều nước khác nhau. 10 Hiệp định FTA đang có hiệu lực:

  • Sáu Hiệp định đa phương (Việt Nam – ASEAN, ASEAN – Trung Quốc, ASEAN – Hàn Quốc, ASEAN – Nhật Bản, ASEAN – Ấn Độ và ASEAN – Úc – New Zealand);
  • Bốn Hiệp định song phương (Hiệp định Đối tác Kinh tế Việt Nam – Nhật Bản, Hiệp định FTA song phương Việt Nam – Chile, Hiệp định FTA Việt Nam – Hàn Quốc và Hiệp định FTA Việt Nam – Hội đồng Kinh tế Eurasian);

2 Hiệp định sau đây đã được ký kết:

  • Hiệp định FTA Việt Nam – EU;
  • Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương.

Việt Nam đã chính thức gia nhập WTO vào ngày 07/11/2006 và các cam kết bắt đầu có hiệu lực từ ngày 11/01/2007. Việc Việt Nam gia nhập WTO đã tác động tích cực đến thị trường và nền kinh tế đất nước như sau:

  • Giảm đáng kể thuế nhập khẩu đối với hàng hóa phục vụ sản xuất trong nước, tiêu dùng cá nhân và chính phủ; và
  • Tự do hóa thị trường dịch vụ Việt Nam. Các tiểu ngành dịch vụ đã từng bị cấm hoặc hạn chế đầu tư nước ngoài như phân phối, vận tải, viễn thông và tài chính hiện đang được tự do hóa.

LUẬT DOANH NGHIỆP:

Theo Luật Doanh nghiệp Việt Nam 2014 (LDN), để thành lập một doanh nghiệp, nhà đầu tư nước ngoài trước tiên phải nộp hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (IRC), và sau đó, xin giấy phép đăng ký kinh doanh (ERC). LDN có hiệu lực vào ngày 1 tháng 7 năm 2015 quy định các vấn đề liên quan đến thành lập, tổ chức, tái tổ chức, quản lý và giải thể các doanh nghiệp tại Việt Nam.

NHỮNG LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP THÔNG DỤNG ĐỐI VỚI ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI:

Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH): TNHH là một pháp nhân được thành lập bởi tối thiểu một thành viên và tối đa là 50 thành viên. Chủ sở hữu của TNHH sẽ chịu trách nhiệm hữu hạn tương ứng khoản vốn góp thành lập công ty về các khoản nợ và nghĩa vụ tài chính của TNHH.

TNHH huy động vốn bằng cách kêu gọi nguồn vốn góp từ các chủ sở hữu, chứ không thể phát hành cổ phiếu. TNHH có thể có một hoặc nhiều đại diện theo pháp luật.

Công ty TNHH một thành viên (TNHH MTV) là loại hình TNHH chỉ có một chủ sở hữu. Chủ sở hữu công ty có thể là một cá nhân hoặc một tổ chức và không giới hạn các quyền quyết định liên quan đến cơ cấu tổ chức quản lý và vận hành công ty.

Cơ cấu tổ chức quản lý của TNHH MTV phụ thuộc vào chủ sở hữu là cá nhân hay tổ chức. Nếu chủ sở hữu TNHH MTV là cá nhân, cơ cấu tổ chức quản lý của công ty sẽ bao gồm chủ tịch công ty và giám đốc (hoặc tổng giám đốc).

Chủ tịch công ty sẽ là chủ sở hữu, người có quyền không giới hạn để quản lý công ty, trong khi giám đốc điều hành các hoạt động hằng ngày của TNHH MTV. Chủ tịch công ty có thể kiêm nhiệm chức vụ giám đốc hoặc thuê cá nhân khác làm giám đốc của TNHH MTV.

Nếu chủ sở hữu là tổ chức, có hai mô hình cơ cấu tổ chức quản lý công ty. Mô hình thứ nhất bao gồm chủ tịch công ty và giám đốc (hoặc tổng giám đốc) và kiểm soát viên.

Chủ tịch công ty là một cá nhân được chỉ định bởi chủ sở hữu và có quyền nhân danh chủ sở hữu thực hiện các quyền và nghĩa vụ, trừ những quyền và nghĩa vụ đã được giao cho giám đốc của công ty TNHH MTV. Giám đốc, là chức danh do chủ tịch công ty chỉ định, là người điều hành các hoạt động hàng ngày của TNHH MTV. Trong trường hợp chủ tịch công ty trực tiếp quản lý TNHH MTV, chủ tịch công ty có thể tự bổ nhiệm mình làm giám đốc. Nếu không, chủ tịch công ty có thể thuê và chỉ định một cá nhân khác làm giám đốc của TNHH MTV.

Nhiệm kỳ tối đa của chức danh giám đốc là năm năm. Khi nhiệm kỳ giám đốc chấm dứt, giám đốc có thể được tái bổ nhiệm. Quyền và nghĩa vụ của giám đốc được xác định theo điều lệ của TNHH MTV cũng như LDN.

Kiểm soát viên được chủ sở hữu chỉ định. Chủ sở hữu quyết định số lượng kiểm soát viên. Kiểm soát viên có quyền xem tất cả các giấy tờ và tài liệu của TNHH MTV để phục vụ cho mục đích kiểm tra và báo cáo trực tiếp cho chủ sở hữu. Nhiệm kỳ của kiểm soát viên tối đa là năm năm.

Chủ sở hữu là tổ chức có thể chọn mô hình thứ hai, gồm Hội đồng thành viên, Giám đốc (hoặc Tổng giám đốc) và Ban kiểm soát. Sự khác biệt giữa mô hình này và mô hình thứ nhất là Hội đồng thành viên.

Hội đồng thành viên là một nhóm từ ba đến bảy thành viên, do chủ sở hữu chỉ định để thay mặt chủ sở hữu thực hiện và ban hành các quyết định liên quan đến công ty. Nhiệm kỳ tối đa của mỗi thành viên trong Hội đồng thành viên là năm năm. Hội đồng thành viên đứng đầu là chủ tịch Hội đồng thành viên, do chủ sở hữu bổ nhiệm hoặc do Hội đồng thành viên bầu chọn.

Công ty TNHH hai thành viên trở lên (TNHH NTV) là một loại hình công ty TNHH có 2-50 thành viên. Cơ cấu tổ chức quản lý công ty bao gồm hội đồng thành viên, chủ tịch hội đồng thành viên, giám đốc (hoặc tổng giám đốc) và ban kiểm soát nội bộ. Trong trường hợp TNHH NTV có ít hơn 11 thành viên, không bắt buộc thành lập Ban kiểm soát nội bộ.

Các chủ sở hữu của TNHH NTV thành lập hội đồng thành viên và hội đồng thành viên này có quyền quyết định mọi việc liên quan quyền và nghĩa vụ của TNHH NTV. Chủ tịch Hội đồng thành viên được Hội đồng thành viên bầu ra. Chủ tịch Hội đồng thành viên có thể đồng thời là giám đốc.

Công ty cổ phần (CTCP): CTCP là một pháp nhân được thành lập bởi ít nhất ba cổ đông. Không có sự giới hạn nào về số lượng cổ đông; đây là sự khác biệt đầu tiên giữa TNHH và CTCP. Trong trường hợp sau khi thành lập, nếu CTCP đó có ít hơn ba cổ đông do chuyển nhượng cổ phần, thì công ty phải chuyển đổi thành loại hình TNHH.

Theo luật pháp Việt Nam, CTCP là loại hình doanh nghiệp duy nhất có thể phát hành cổ phiếu. Như vậy, một CTCP có thể huy động vốn bằng việc phát hành và bán cổ phần. Một điểm khác biệt khác giữa loại hình TNHH và CTCP là việc chuyển nhượng cổ phần của một cổ đông trong CTCP sẽ đơn giản hơn là việc chuyển nhượng giữa các thành viên TNHH với nhau. Cấu trúc quản trị của CTCP bao gồm đại hội cổ đông, hội đồng quản trị, chủ tịch hội đồng quản trị, giám đốc (hoặc tổng giám đốc) và ban kiểm soát. Trong trường hợp CTCP có dưới 11 cổ đông, không bắt buộc thành lập Ban kiểm soát.

Theo LDN hiện hành, cuộc họp của đại hội đồng cổ đông sẽ được tổ chức khi cổ đông tham dự đại diện cho ít nhất 51% tổng số phiếu bầu của công ty. Tỷ lệ này là tỷ lệ đã được giảm từ 65% theo quy định của LDN cũ. Ngoài ra. LDN hiện hành còn có thêm quy định về thành viên độc lập của hội đồng quản trị (tiêu chuẩn, điều kiện, nhiệm kỳ của các thành viên độc lập, v.v.) là các thành viên không tham gia trực tiếp vào việc quản lý CTCP. LDN hiện hành đã bỏ các quy định liên quan đến việc đại hội đồng cổ đông phải trực tiếp bầu chủ tịch hội đồng quản trị, và quy định việc một tổng giám đốc của doanh nghiệp này sẽ không được đồng thời kiêm nhiệm chức vụ tổng giám đốc của doanh nghiệp khác.

Công ty hợp danh: Theo LDN, công ty hợp danh là một pháp nhân đặc biệt. Một công ty hợp danh có thể cùng có hai loại thành viên, gồm thành viên hợp danh và thành viên góp vốn. Thành viên hợp danh bắt buộc phải là cá nhân chứ không được là tổ chức, và chịu trách nhiệm không giới hạn đối với bất kỳ khoản nợ và các vấn đề tài chính khác của công ty hợp danh. Thành viên góp vốn có thể là tổ chức và có trách nhiệm hữu hạn đối với phần vốn góp của mình vào công ty hợp danh.

Một công ty hợp danh phải có ít nhất hai thành viên hợp danh. Nếu không có sự đồng ý từ các thành viên hợp danh khác, thành viên hợp danh sẽ không được đồng thời là chủ sở hữu của một doanh nghiệp tư nhân hoặc là thành viên hợp danh của một công ty hợp danh khác.

CÁC HÌNH THỨC KHÁC CỦA ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI:

TNHH, CTCP và Công ty hợp danh là ba loại hình doanh nghiệp mà nhà đầu tư nước ngoài có thể thành lập và tham gia. Tuy nhiên, theo luật pháp Việt Nam, nhà đầu tư nước ngoài cũng có thể tham gia đầu tư vào Việt Nam theo những hình thức khác thông qua chi nhánh, văn phòng đại diện (VPĐD), hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC) và hợp đồng đầu tư công (PPP).

Chi nhánh của một công ty nước ngoài: Chi nhánh của một công ty nước ngoài được phép thành lập và hoạt động trong một số lĩnh vực kinh doanh mà Việt Nam cam kết theo các điều ước thương mại quốc tế. Phạm vi kinh doanh của chi nhánh được giới hạn trong phạm vi kinh doanh của doanh nghiệp nước ngoài.

VPĐD: VPĐD là một đơn vị phụ thuộc và không thể tiến hành các hoạt động thương mại nhằm tạo ra lợi nhuận. VPĐD có thể được thành lập với mục đích làm đầu mối liên lạc cho doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam và thực hiện các công tác nghiên cứu thị trường. Do đó, VPĐD là loại hình đầu tư có thể dùng để cung cấp một số hỗ trợ cho doanh nghiệp nước ngoài về vấn đề đầu tư tại Việt Nam.

BCC: Hình thức đầu tư BCC là một thỏa thuận hợp tác đầu tư giữa nhà đầu tư trong và ngoài nước. Sau khi ký kết hợp đồng, loại hình BCC sẽ được đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh của Việt Nam.

PPP: Hình thức đầu tư PPP là một loại hình đầu tư dựa trên hợp đồng giữa các cơ quan chính phủ và các doanh nghiệp thực hiện dự án đối với các dự án cơ sở hạ tầng và các dịch vụ công.

CÁC ĐIỂM MỚI CỦA LDN HIỆN HÀNH:

So với LDN trước đây, LDN hiện hành đã có một số thay đổi nhằm đơn giản hóa thủ tục đăng ký doanh nghiệp. Một ví dụ cụ thể là LDN đã rút ngắn khoảng thời gian của thủ tục đăng ký ERC từ năm thành còn ba ngày làm việc. Khi có sự thay đổi về ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp, doanh nghiệp chỉ cần thông báo cho cơ quan đăng ký kinh doanh thay vì nộp đơn xin sửa đổi nội dung giấy ERC và chờ được cấp ERC mới.

Hơn nữa, một doanh nghiệp có thể có nhiều hơn một đại diện theo pháp luật và có nhiều hơn một con dấu. Số lượng đại diện theo pháp luật và con dấu phải được ghi vào điều lệ của doanh nghiệp. Trước khi chính thức sử dụng con dấu mới của công ty, doanh nghiệp cần thông báo mẫu dấu mới trên Cổng thông tin đăng ký kinh doanh quốc gia Việt Nam bằng cách gửi mẫu cho cơ quan đăng ký kinh doanh và thanh toán một khoản phí thông báo.

Một thay đổi đáng chú ý khác của LDN hiện hành là đơn giản hoá các thủ tục tái tổ chức doanh nghiệp. Trong quá khứ, các thủ tục tái tổ chức, như sáp nhập, mua lại và chia tách doanh nghiệp phải được thực hiện giữa các doanh nghiệp có cùng loại hình doanh nghiệp. Tuy nhiên, theo chương IX của LDN hiện hành, các điều kiện này đã được bãi bỏ. Hiện nay, việc tái tổ chức có thể thực hiện giữa các loại hình doanh nghiệp khác nhau.

LUẬT LAO ĐỘNG:

Năm 2016 chính phủ công bố văn bản quan trọng hướng dẫn Luật Lao động năm 2012 (LLĐ) liên quan đến người lao động nước ngoài, bao gồm Nghị định 11/2016/NĐ-CP hướng dẫn một số điều của LLĐ liên quan đến người lao động nước ngoài tại Việt Nam (Nghị định 11) và Thông tư 40/2016/TT-BLĐTBXH hướng dẫn Nghị định 11 (Thông tư 40). Phần này sẽ tập trung vào giới thiệu một số điểm quan trọng của những văn bản này.

Đối tượng của giấy phép lao động: Một người lao động nước ngoài phải đăng ký giấy phép lao động từ các cơ quan quản lý lao động để có thể làm việc hợp pháp tại Việt Nam. Trong trường hợp vi phạm, không chỉ người lao động nước ngoài đối mặt với lệnh trục xuất bởi chính quyền Việt Nam, mà người sử dụng lao động đã thuê lao động nước ngoài cũng sẽ bị phạt theo luật.

Theo LLĐ, các nhà thầu trong nước, doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân chỉ có thể tuyển dụng người nước ngoài làm việc với tư cách là người quản lý, giám đốc điều hành, chuyên gia và lao động kỹ thuật, những vị trí mà người Việt Nam không đủ tiêu chuẩn. Có hai yêu cầu quan trọng trong quy định này:

  • Chỉ có người quản lý, điều hành, chuyên gia và nhân viên lao động kỹ thuật có thể được cấp phép. Yêu cầu này hướng đến hạn chế việc thất nghiệp của người lao động Việt Nam không có tay nghề và chỉ thu hút những người lao động nước ngoài có kỹ năng nhằm phát triển kinh tế Việt Nam. Đáng chú ý, bằng việc ban hành một ngoại lệ với những quy định này, định nghĩa về “chuyên gia nước ngoài” được mở rộng để chấp nhận cả các kinh nghiệm thực tiễn của một người lao động nước ngoài. Một người lao động nước ngoài có chứng nhận chuyện gia từ một doanh nghiệp hoặc tổ chức nước ngoài được công nhận là chuyên gia bất kể bằng cấp của họ. Sự đổi mới có thể thấy rõ khi so sánh với Nghị định 102/2013/NĐ-CP, theo đó các nhà lập pháp yêu cầu các chuyên gia không có bằng cấp học thuật phải được công nhận bởi chính phủ nước ngoài. Nay, với sự xác nhận từ các tổ chức hoặc doanh nghiệp hợp pháp, người lao động nước ngoài có thể được cấp giấy phép lao động; và
  • Người nước ngoài có thể được tuyển dụng cho các vị trí mà người lao động Việt Nam không thể thỏa mãn. Ví dụ, mặc dù Samsung là một công ty công nghệ cao, từ góc độ pháp lý họ chỉ có thể tuyển dụng người lao động nước ngoài cho một số vị trí quan trọng để có thể tạo việc làm cho người Việt Nam. Trước khi người lao động nước ngoài nhập cảnh vào Việt Nam, người sử dụng lao động phải giải thích về nhu cầu lao động nước ngoài với Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh.

Mặc dù vậy, có một số trường hợp nhất định mà người lao động nước ngoài được miễn yêu cầu về giấy phép lao động. Nếu giấy phép lao động là không bắt buộc, người sử dụng lao động phải đăng ký để có một xác nhận bằng văn bản từ các cơ quan quản lý lao động cho người lao động tương ứng. Xác nhận bằng văn bản sẽ được sử dụng để chứng minh rằng người lao động có thể nhập cảnh Việt Nam với mục đích lao động. Nhìn chung, quy định này khá chi tiết và phức tạp, bao gồm một danh sách rất nhiều trường hợp. Các trường hợp được miễn giấy phép lao động sau đây là khá phổ biến và đáng chú ý:

  • Đầu tiên, người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam, trong trường hợp di chuyển nội bộ đối với 11 nhóm dịch vụ quy định trong Biểu Cam kết WTO của Việt Nam, được miễn yêu cầu về giấy phép lao động. Ví dụ, một chuyên gia về thuế của Deloitte Mỹ có thể được giao làm việc tại Deloitte Việt Nam mà không cần phải xin giấy phép lao động; và
  • Thứ hai, người lao động nhập cảnh Việt Nam để giữ các chức vụ chuyên gia, quản lý, giám đốc điều hành hoặc kỹ thuật viên trong thời gian ít hơn 30 ngày mỗi lần và ít hơn 90 ngày mỗi năm.

Thủ tục cấp giấy phép lao động: Để có giấy phép lao động, người sử dụng lao động phải đăng ký thay cho người lao động tại các cơ quan quản lý lao động theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Người sử dụng lao động nên xây dựng một kế hoạch hiệu quả để hoàn tất các thủ tục pháp lý trước khi người lao động nước ngoài nhập cảnh vào Việt Nam. Nhìn chung, khoảng thời gian được khuyến nghị là hai tháng trước ngày làm việc dự kiến. Người lao động và người sử dụng lao động sẽ có thể chuẩn bị hồ sơ cho các thủ tục cần thiết, bởi vì có thể có chậm trễ do thay đổi về các yêu cầu trong quá trình đăng ký. Thời hạn tối đa của một giấy phép lao động là hai năm.

Di chuyển của người lao động nước ngoài giữa các tỉnh các khác nhau: Trước khi Thông tư 40 có hiệu lực, người nước ngoài phải đăng ký giấy phép lao động mới nếu như di chuyển tới một tỉnh khác so với địa phương nơi giấy phép lao động hiện tại được cấp. Yêu cầu này khá tốn thời gian và bất tiện, đặc biệt với người lao động nước ngoài được tuyển dụng tại các công ty lớn với mạng lưới thương mại rộng khắp toàn Việt Nam. Để giải quyết hạn chế này, Thông tư 40 quy đã định rằng người lao động nước ngoài với giấy phép lao động có hiệu lực chỉ cần thông báo bằng văn bản cho cơ quan quản lý lao động của tỉnh nơi họ đến làm việc.

Tuy nhiên, cần chú ý rằng người nước ngoài phải làm công việc tương tự như đã được cấp trong giấy phép lao động, bất kể di chuyển đến đâu. Nếu, ví dụ, một chuyên viên kỹ thuật tại văn phòng Hà Nội được chuyển vào thành phố Hồ Chí Minh để giữ chức vụ quản lý điều hành, người này có nghĩa vụ phải đăng ký giấy phép lao động mới tại cơ quan quản lý lao động của thành phố Hồ Chí Minh.

LUẬT ĐẦU TƯ

Nhà đầu tư nước ngoài ngày càng giữ vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế Việt Nam. Để thu hút đầu tư nước ngoài, các nhà lập pháp Việt Nam bắt đầu một số quy định cải cách về đầu tư để chuẩn bị cho việc gia nhập cộng đồng kinh tế ASEAN và hàng loạt các Hiệp định thương mại tự do.

Trong khuôn khổ pháp lý về thu hút đầu tư, Luật Đầu tư (LĐT) nhận được nhiều sự chú ý. Năm 2014, LĐT mới với những thay đổi đột phá nhằm cải thiện môi trường đầu tư ra đời.

Năm 2016, Việt Nam tiến xa hơn trong việc nới lỏng hàng rào cho doanh nghiệp thông qua việc điều chỉnh LĐT. Ngày 12/11/2015, chính phủ ban hành Nghị định 118/2015/ND-CP hướng dẫn thực hiện Luật Doanh nghiệp 2014 (Nghị định 118).

Làm rõ các khái niệm mới và phạm vi: Nhiều vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện các quy định liên quan đến đầu tư trước khi LĐT ra đời là do cơ quan có thẩm quyền hiểu nhầm các khái niệm pháp lý hoặc do sự thiếu sót các khái niệm pháp lý quan trọng. Việc này dẫn đến vấn đề các cơ quan cấp phép khác nhau giải thích pháp luật khác nhau, và làm cho nhiều khía cạnh của quá trình đăng ký đầu tư trở nên khó dự đoán. Do vậy, việc làm rõ các khái niệm pháp lý quan trọng là một điểm nổi bật của LĐT.

Khái niệm “nhà đầu tư nước ngoài” và “tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài” được phân biệt rõ ràng. Theo LĐT, một nhà đầu tư nước ngoài là một cá nhân mang quốc tịch nước ngoài, hoặc một tổ chức được thành lập theo pháp luật của một quốc gia khác, thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam, trong khi tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là tổ chức kinh tế thành lập theo pháp luật Việt Nam có một thành viên hoặc cổ đông là nhà đầu tư nước ngoài. Theo các khái niệm trên, một tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài sẽ không còn bị nhầm với nhà đầu tư nước ngoài, và sẽ không phải tuân thủ theo thủ tục đầu tư áp dụng cho nhà đầu tư nước ngoài như trước đây.

Mở rộng tự do kinh doanh: Những năm gần đây, loại bỏ việc tội phạm hóa hoạt động kinh doanh để bảo vệ các nhà đầu tư là một ưu tiên của Việt Nam. Quy định nhà đầu tư có quyền thực hiện hoạt động đầu tư, kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm nay được khẳng định lại trong LĐT. Quyền tự do kinh doanh được thể hiện trong các quy định sửa đổi của LĐT về các ngành nghề cấm đầu tư, kinh doanh và ngành nghề kinh doanh có điều kiện.

Đối với các ngành nghề cấm đầu tư, kinh doanh, LĐT đưa ra “Danh mục cấm đầu tư, kinh doanh”, nghĩa là nhà đầu tư được phép kinh doanh trong tất cả các ngành nghề trừ bảy ngành nghề được nêu tại Điều 6 LĐT, bao gồm các ngành nghề kinh doanh sau đây:

  • Ma túy;
  • Hóa chất và khoáng vật;
  • Mẫu thực vật, động vật hoang dã; mẫu vật các loại động vật, thực vật hoang dã nguy cấp, quý hiếm;
  • Mại dâm;
  • Mua bán người, mô, bộ phận cơ thể người;
  • Kinh doanh liên quan đến sinh sản vô tính trên người; và
  • Pháo hoa.

Đối với các ngành nghề kinh doanh có điều kiện, LĐT đặt ra một nguyên tắc quyết định rằng mỗi ngành nghề kinh doanh có điều kiện ở Việt Nam phải được quy định cụ thể trong Phụ lục 4 của LĐT, và các yêu cầu đầu tư, kinh doanh đối với ngành nghề kinh doanh có điều kiện chỉ có thể được quy định trong Luật, Pháp lệnh, Nghị định và Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Các Bộ và các cơ quan nhà nước khác cấp thấp hơn của Việt Nam hiện nay không có quyền đưa ra các điều kiện kinh doanh mới trong các văn bản pháp luật do cơ quan đó ban hành. Có 243 ngành nghề kinh doanh có điều kiện được quy định tại Điều 7 và Phụ lục 4 kèm theo LĐT. Khi LĐT được thông qua, Phụ lục 4 bao gồm 267 lĩnh vực kinh doanh.

Tuy nhiên, sau một năm thực hiện, một số ngành nghề kinh doanh trong danh sách này bị loại bỏ do trùng lặp. Do đó, năm 2016, Quốc hội Việt Nam đã thông qua LĐT sửa đổi để giảm số lượng ngành nghề kinh doanh có điều kiện xuống còn 243.

Hình thức đầu tư: Hình thức đầu tư được quy định tại các điều từ Điều 22 đến 29 của LĐT và được quy định tại các điều từ Điều 44 đến 46 của Nghị định 118. Nhà đầu tư nước ngoài có thể lựa chọn một trong các hình thức đầu tư sau đây:

  • Thành lập một công ty có vốn đầu tưnước ngoài (công ty liên doanh, 100% công ty nước ngoài);
  • Góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp;hoặc
  • Thực hiện hợp đồng PPP hoặc BCC.

Theo Điều 22 LĐT, nhà đầu tư nước ngoài có thể sở hữu vốn điều lệ không hạn chế trong các công ty thành lập tại Việt Nam, trừ các trường hợp sau đây:

  • Công ty niêm yết, công ty đại chúng, tổ chức kinh doanh chứng khoán và quỹ đầu tư chứng khoán;và
  • Doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hóa hoặc chuyển đổi sở hữu theo hình thức khác.

Theo Điều 25 LĐT, nhà đầu tư nước ngoài có thể góp vốn, mua cổ phần vào các tổ chức kinh tế là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty hợp danh.

Các khoản đầu tư theo hợp đồng PPP được quy định tại Điều 27 LĐT. Theo hình thức đầu tư này, các nhà đầu tư và công ty quản lý dự án ký hợp đồng PPP với cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam để thực hiện dự án đầu tư xây dựng mới hoặc cải tạo, nâng cấp, mở rộng, quản lý và vận hành các công trình kết cấu hạ tầng hoặc cung cấp dịch vụ công.

Nghị định 15/2015/NĐ-CP về đầu tư theo hình thức PPP của Chính phủ quy định chi tiết các hình thức hợp đồng PPP, như xây dựng – kinh doanh – chuyển giao, xây dựng – chuyển giao – kinh doanh, xây dựng – chuyển giao, xây dựng – sở hữu – kinh doanh, xây dựng – chuyển giao – thuê dịch vụ, xây dựng – thuê dịch vụ – chuyển giao và hợp đồng kinh doanh và quản lý để khuyến khích đầu tư vào các lĩnh vực công.

Đơn giản hóa các thủ tục đầu tư: Việc đầu tư vốn nước ngoài vào các nước đang phát triển ngày càng mạnh mẽ hơn, Việt Nam không thể làm ngơ trước các yêu cầu chung của các nhà đầu tư nước ngoài về đơn giản hóa thủ tục đầu tư. Việc giải quyết vấn đề này là thực sự cần thiết. LĐT mới rút ngắn thời gian để cấp giấy chứng nhận đầu tư (GCNĐT).

LĐT không phân biệt dự án đầu tư của một nhà đầu tư Việt Nam hay dự án đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài. Quy định pháp luật phân loại dự án đầu tư thành hai loại: dự án thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư và dự án không thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư. Các thủ tục hướng dẫn chi tiết cho từng loại dự án và các mẫu đơn được quy định tại Thông tư 16/2015/TT-BKHĐT. Điều 36 LĐT quy định các trường hợp không yêu cầu phải có GCNĐT như sau:

  • Dự án đầu tư của nhà đầu tư Việt Nam;
  • Dự án đầu tư của các tổ chức kinh tế bằng cách góp vốn, mua cổ phần hoặc mua phần vốn góp;và
  • Dự án đầu tư của tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài để thành lập tổ chức kinh tế;đầu tư góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp của các tổ chức kinh tế; thực hiện đầu tư theo hợp đồng BCC trừ các trường hợp sau đây:
    1. Có nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ từ 51% vốn điều lệ trở lên hoặc có đa số thành viên hợp danh là cá nhân nước ngoài;
    2. Có tổ chức kinh tế có nhà đầu tư nước ngoài giữ từ 51% vốn điều lệ trở lên, hoặc có đa số thành viên hợp danh là cá nhân nước ngoài nắm giữ từ 51% vốn điều lệ trở lên; và
    3. Có nhà đầu tư nước ngoài và tổ chức kinh tế có nhà đầu tư nước ngoài giữ từ 51% vốn điều lệ trở lên, hoặc có đa số thành viên hợp danh là cá nhân nước ngoài nắm giữ từ 51% vốn điều lệ trở lên.

Theo Điều 37 của LĐT, thời gian cấp GCNĐT đã được rút ngắn như sau:

  • Các dự án được thuộc diện quyết định chủ trương đầu tư sẽ được cấp GCNĐT trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản quyết định chủ trương đầu tư; và
  • Các dự án không thuộc diện quyết định chủ trương đầu tư sẽ được cấp GCNĐT trong thời hạn 15 ngày kể từ ngàycơ quan có thẩm quyền nhận được đầy đủ hồ sơ.

Trường hợp điều chỉnh GCNĐT theo Điều 40 của LĐT, trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận đầy đủ hồ sơ, cơ quan đăng ký đầu tư sẽ cấp GCNĐT sửa đổi.

Ngoài ra, Sở Kế hoạch và Đầu tư của mỗi thành phố có Phòng Đầu tư riêng để tạo điều kiện cho việc đầu tư nước ngoài, và website hướng dẫn thủ tục đăng ký đầu tư. Nhìn chung, việc đăng ký đầu tư ngày càng trở nên dễ dàng hơn cho tất cả các nhà đầu tư, kể cả các nhà đầu tư nước ngoài.

QUY ĐỊNH VỀ THOÁI VỐN:

Sau những khó khăn và bước tiến chậm chạp trong vài năm trở lại đây, vấn đề thoái vốn trở lại thành một trong những vấn đề trọng tâm trong chương trình nghị sự của Chính Phủ, với mục tiêu tiếp tục thoái vốn các Doanh nghiệp nhà nước (DNNN).

Năm 2017 đánh dấu nhiều chính sách và quy định quan trọng ảnh hưởng đến tiến trình thoái vốn của các DNNN tại Việt Nam. Tính đến tháng 10/2016, có 718 DNNN vẫn đang hoạt động.

Nghị quyết 05-NQ/TW, Ban Chấp hành Trung Ương, Đảng Cộng sản Việt Nam: Vào ngày 11/11/2016, Nghị quyết 05-NQ/TW (Nghị quyết 05) được ban hành đã phác thảo những chính sách quan trọng để đổi mới mô hình tăng trưởng và cải thiện chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam. Nghị quyết 05 là một văn kiện quan trọng, đặt ra mục tiêu với tầm nhìn tới năm 2020 cho một Chính phủ Việt Nam mới. Những chính sách trong Nghị quyết 05 sẽ tác động đến hệ thống pháp luật Việt Nam trong những năm tới.

Theo Nghị quyết 05, quy trình thoái vốn trong những năm trước không đạt được những kết quả như mong đợi. Với những doanh nghiệp được tiến hành thoái vốn trong giai đoạn này, nhà nước chỉ thoái vốn được 8% phần vốn nhà nước. Nhà nước vẫn nắm giữ đa số cố phần, do đó không có những thay đổi đáng kể trong quản trị trong những doanh nghiệp này.

Nghị quyết 05 đã xác định phương hướng cho Chính phủ để thực hiện thoái vốn như sau:

  • Tiếp tục thoái vốn DNNN, tập trung vào những doanh nghiệp lớn, quyết định phạm vi thoái vốn doanh nghiệp dựa trên ngành nghề kinh doanh; tăng tốc độ quá trình thoái vốn;
  • Thúc đẩy quá trình thoái vốn bằng sự minh bạch và tuân theo cơ chế thị trường;
  • Tăng việc kiểm tra và giám sát để phòng tránh mất mát đối với vốn và tài sản nhà nước;
  • Phát triển cơ chế kiểm soát việc sáp nhập và huy động tài sản;
  • Đảm bảo rằng bất kỳ doanh nghiệp nào được thực hiện thoái vốn phải được niêm yết trên thị trường chứng khoán trong một năm kể từ lần chào bán cổ phần đầu tiên;
  • Thu hút cổ đông chiến lược có khả năng tài chính;
  • Tăng tỷ lệ phần trăm cổ phần được thoái vốn tại DNNN đến mức độ dẫn tới sự thay đổi đáng kể trong việc quản trị.

Quyết định 58/2016/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam: Quyết định 58/2016/QĐ-TTg, ngày 28/12/2016 (Quyết định 58) về những tiêu chuẩn để phân loại DNNN là văn bản pháp luật khác tác động đến hoạt động thoái vốn tại Việt Nam.

Quyết định 58 có hiệu lực vào ngày 15/02/2017 với 03 phụ lục đã cung cấp những thông tin hữu ích đối với những DNNN thực hiện việc thoái vốn trong giai đoạn 2016-2020.

Phụ lục 1 đưa ra quy định về tỷ lệ sở hữu nhà nước trong những ngành nghề kinh doạnh khác nhau:

  • Một số ngành nghề mà DNNN không được thoái vốn bao gồm quốc phòng và ngành nghề liên quan đến an ninh, sản xuất và kinh doanh vật liệu nổ công nghiệp, xổ số, báo chí, an toàn hàng hải, dịch vụ không lưu hàng không, in tiền và quản lý cơ sở hạ tầng giao thông.
  • Một số ngành nghề không được thoái vốn hơn 35% bao gồm quản lý và khai thác sân bay, ngân hàng, khai thác dầu, khai thác khoáng sản và dịch vụ thông tin dẫn đường; và
  • Một số ngành nghề không được thoái vốn hơn 50% bao gồm sản xuất hóa chất cơ bản, vận tải hàng không, bán buôn gạo, nhập khẩu dầu và nhiên liệu, thuốc lá, dịch vụ viễn thông với cơ sở hạ tầng mạng và bán lẻ điện.

Phụ lục 2 và 3 đưa ra danh mục các DNNN

  • Không được thoái vốn (103 doanh nghiệp);
  • Thoái vốn thấp hơn 35% (4 doanh nghiệp);
  • Thoái vốn thấp hơn 50% (27 doanh nghiệp); và
  • Thóa vốn hơn 50% (106 doanh nghiệp).

Quyết định 929/QĐ-TTg, ngày 17/06/2012 của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam: Quyết định 929/QĐ-TTg (Quyết định 929) về chấp thuận đề án “tái cơ cấu DNNN tập trung vào những tập đoàn kinh tế, tổng công ty kinh tế nhà nước, trong giai đoạn 2011 – 15” cũng là một văn bản quan trọng liên quan đến tiến trình thoái vốn tại Việt Nam.

Quyết định này là văn bản quản lý được ban hành bởi Chính Phủ, đưa ra các mục tiêu và phương hướng cho các Bộ thực hiện việc thoái vốn trong giai đoạn 2011 – 15.

Vào cuối năm 2016, Chính phủ Việt Nam đã xem xét, đánh giá lại việc triển khai quá trình thoái vốn trong giai đoạn thi hành quyết định. Sau quá trình xem xét, một quyết định mới đưa ra bản kế hoạch mới cho giai đoạn 2016 – 20, thay thế Quyết định 929. Quyết định này được trình Thủ tướng Chính phủ để chấp thuận, thông qua.

Khi quyết định mới được ban hành, công chúng sẽ có thêm thông tin về những kế hoạch hành động của Chính phủ đối với quy trình thoái vốn đến năm 2020. Quan trọng hơn, từ những kế hoạch hành động này, các nhà đầu tư có thể dự đoán được những chính sách của các bộ có trách nhiệm soạn thảo và rà soát các văn bản pháp luật.

Dự thảo nghị định về chuyển đổi DNNN thành công ty cổ phần: Hiện tại, Bộ Tài chính đang soạn thảo nghị định về chuyển đổi các DNNN thành công ty cổ phần (Dự thảo nghị định) thay thế nghị định 59/2011/NĐ-CP hiện đang điều chỉnh vấn đề này. Dự thảo nghị định này là một văn bản pháp lý quan trọng liên quan đến quy trình thoái vốn.

Sau nhiều năm triển khai, Nghị định 59 được bộc lộ nhiều hạn chế khi triển khai. Những sự thay đổi trong luật đầu tư, luật doanh nghiệp, luật quản lý và sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp đã khiến nhiều quy định của Nghị định 59 không còn phù hợp. Do vậy, dự thảo nghị định mới dự kiến được ban hành để khuyến khích những bước tiến xa hơn trong quá trình thoái vốn.

Một số quy định quan trọng của dự thảo nghị định có thể ảnh hưởng đến nhà đầu tư, như sau:

  • Nhà đầu tư chiến lược sẽ bị ràng buộc bởi những trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm bồi thường nếu vi phạm cam kết đầu tư. Thời hạn hạn chế chuyển nhượng cổ phần đối với nhà đầu tư chiến lược được giảm xuống còn 3 năm. Việc chào bán đối với nhà đầu tư chiến lược sẽ chỉ được cho phép sau khi đấu giá công khai (đàm phán với nhà đầu tư chiến lược trước khi đấu giá công khai là không được phép);
  • Các yêu cầu để lựa chọn các công ty tư vấn định giá sẽ được quy định chi tiết. Công ty tư vấn định giá nước ngoài có thể tham gia vào quá trình định giá các DNNN Việt Nam; và
  • Tối thiểu 10% số cổ phần khi thoái vốn DNNN sẽ được chào bán ra công chúng thông qua đấu giá công khai. Phương pháp dựng sổ sẽ được bổ sung thành phương thức chào bán mới, và một DNNN phải trình kế hoạch sử dụng đất cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhận được sự chấp thuận từ những cơ quan này để bắt đầu quy trình định giá.