Đã có những cuộc tranh luận về việc làm thế nào để tăng năng suất của ngành công nghiệp Việt Nam. Một báo cáo gần đây do Bộ Kế hoạch và Đầu tư đưa ra cho thấy chỉ số năng suất lao động của Việt Nam đạt 102,2 triệu đồng (tương đương với 4.400 USD) mỗi lao động vào năm 2018, gần gấp đôi so với năm 2011.

Mặc dù năng suất lao động tăng, nhưng vẫn phải tăng nữa để bắt kịp với năng suất lao động trung bình của các nước trong khu vực ASEAN khác do năng suất lao động của Việt Nam thấp hơn rất nhiều so với các nước này. Ví dụ năng suất lao động của Việt Nam vào khoảng 7% so với của Singapore, 19% của Malaysia, 37% của Thái Lan, 45% của Indonesia và 56% của Philippines. Tuy nhiên, chúng ta cần hiểu rằng năng suất lao động là sự phân tích nhân tố riêng biệt của nền kinh tế và nó không thể hiện bản chất thực sự của một nền kinh tế năng suất.

Năng suất lao động

Năng suất lao động, là lượng hàng hóa và dịch vụ mà một nhóm công nhân sản xuất trong một khoảng thời gian nhất định. OECD định nghĩa nó là tỷ lệ giữa lượng đầu ra trên đầu vào[1]. Trong đó, đầu ra được tính bằng GDP (Tổng sản phẩm quốc nội). Ba phương pháp tính đầu vào phổ biến là:

  1. thời gian lao động, thường là từ cơ sở dữ liệu tài khoản quốc gia hàng năm của OECD;
  2. công việc lao động; và
  3. số lượng lao động.

Rõ ràng là năng suất của ngành không chỉ phụ thuộc vào ba yếu tố liên quan đến lao động mà còn nhiều yếu tố khác như vốn, quy mô nền kinh tế, kiến thức và công nghệ chung. Do đó, nếu phân tích năng suất kinh tế chỉ dựa trên năng suất lao động là không hoàn toàn chính xác.

Năng suất đa yếu tố

Năng suất đa yếu tố (MFP) phản ánh tính hiệu quả của sự kết hợp giữa 2 yếu tố đầu vào là lao động và vốn trong quá trình sản xuất. Sự thay đổi trong MFP phản ánh tác động của những thay đổi trong nhiều khía cạnh của nền kinh tế, như:

  • thực hành quản lý;
  • tên thương hiệu;
  • thay đổi về tổ chức;
  • kiến thức chung;
  • hiệu ứng mạng ;
  • lan tỏa từ các yếu tố sản xuất;
  • chi phí điều chỉnh sản xuất;
  • quy mô kinh tế; và
  • ảnh hưởng của cạnh tranh không lành mạnh và lỗi đo lường.

Tăng trưởng trong MFP được tính bằng phần dư, tức là một phần trong tăng trưởng GDP không thể được giải thích bằng những thay đổi trong đầu vào là lao động và vốn. Do đó, nếu đầu vào là vốn và số lượng lao động không đổi giữa 2 giai đoạn, bất kỳ sự thay đổi đầu ra nào đều sẽ thể hiện sự thay đổi trong MFP.

Việc chỉ áp dụng MFP cho nền kinh tế tư nhân dẫn đến sự khác biệt lớn nếu so sánh với năng suất lao động. Bảng dưới đây sẽ cho thấy số lượng và thứ hạng năng suất giữa một số quốc gia OECD năm 2017.

Theo bảng trên, số giờ làm việc trung bình hàng năm và GDP mỗi giờ làm việc của Hàn Quốc và Hy Lạp có thể suy ra rằng thời gian làm việc càng lâu, năng suất lao động không cao. Tuy nhiên, lý giải này không thể áp dụng cho trường hợp của Ireland, nơi mà GCP mỗi giờ làm việc cao nhất nhưng thời gian làm việc lại kéo dài thứ 4 thế giới. Mặt khác, tỷ lệ tăng trưởng MFP không phù hợp với các yếu tố lao động vì nó phản ánh nhiều yếu tố của nền kinh tế. Ví dụ, Hàn Quốc và Nhật Bản, 2 đất nước nổi tiếng về có thời gian lao động dài, có mức tăng trưởng MFP rất cao, đặc biệt là Hàn Quốc có tốc độ tăng trưởng MFP cao nhất.

Kết luận

Tóm lại, nhiều giờ làm việc  hay mức lương tối thiểu cao không đảm bảo năng suất tốt hơn. Những điều mà Việt Nam cần cải thiện không chỉ là yếu tố lao động, mà còn các yếu tố khác như góp vốn, giáo dục, công nghệ, khoa học, kiến thức và các công ty hay thương hiệu lớn. Có vẻ như còn khá lâu để bắt kịp các nước khác trong ASEAN như Singapore hay Malaysia trước khi Việt Nam có những phát triển quan trọng trong nhiều lĩnh vực khác nhau.

[1] Hướng dẫn của OECD: Tính năng suất; Xác định tăng trưởng năng suất tổng hợp và theo ngành (2002).


KHUYẾN CÁO

Đây KHÔNG phải là tư vấn pháp lý, nếu muốn được tư vấn độc giả nên liên hệ những luật sư đủ khả năng hành nghề trong lĩnh vực liên quan, các luật sư của VCI Legal chắc chắn nằm trong số đó và rất hân hạnh nếu độc giả muốn chúng tôi tư vấn và đại diện pháp lý. VCI Legal không chịu trách nhiệm nếu một số độc giả sử dụng thông tin trong các BẢN TIN PHÁP LUẬT này để tự giải thích/áp dụng các quy định pháp luật