Nguồn án lệ:

Vào ngày 05/02/2020, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã thông qua án lệ số 34/2020/AL về quyền lập di chúc định đoạt giá trị bồi thường về đất trong trường hợp đất bị Nhà nước thu hồi có bồi thường (“Án lệ 34”).

Nguồn của Án lệ 34 dựa trên Quyết định giám đốc thẩm số 58/2018/DS-GĐT ngày 27/9/2018 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội về vụ án dân sự “Tranh chấp yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu” tại tỉnh Vĩnh Phúc giữa nguyên đơn là ông Trần Văn Y (“ông Y”) với bị đơn là Phòng công chứng M; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyên Văn D1 (“ông D1”).

Sự kiện pháp lý:

  1. Từ năm 1957, ông Nguyễn Văn D (“ông D”) và bà Nguyễn Thị C (“bà C”) chung sống với nhau nhưng không đăng ký kết hôn. Vào năm 1959, ông D và bà C, thông qua một số quy trình mua bán, đã bắt đầu được sử dụng thửa đất số 38, tờ bản đồ số 13 (“Thửa đất số 38”).
  1. Vào năm 1987, ông Y đã mua Thửa đất số 38 từ bà C thông qua một hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, sau giao dịch này, ông D và bà C đã làm di chúc để lại Thửa đất số 38 cho con của họ, ông D1.
  2. Vào tháng 1/2011, sau khi ông D và bà C mất, Phòng Công chứng M. đã có văn bản công bố di chúc của ông D và bà C đối với di sản của ông bà.
  3. Vào năm 2013, ông Y được biết về bản công chứng di chúc của cụ D và cụ C và văn bản công bố di chúc của Phòng Công chứng M. Ông Y đã đề nghị Tòa án tuyên bố văn bản công chứng của Phòng Công chứng M. vô hiệu dựa trên cơ sở các văn bản công chứng này không được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
  4. Vào ngày 28/4/2014, Tòa án sơ thẩm thành phố Vĩnh Yên quyết định tuyên bố Văn bản công chứng Di chúc của Phòng công chứng M vô hiệu thông qua bản án sơ thẩm số 10/2014/DS-ST (“Bản án Sơ thẩm”). Ông D1 đã kháng cáo Bản án Sơ thẩm này.
  5. Vào ngày 27/4/2015, thông qua bản án phúc thẩm số 23/2015/DS-PT của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc (“Bản án Phúc thẩm”), Tòa án Phúc thẩm quyết định giữ nguyên Bản án Sơ thẩm.
  6. Vào ngày 11/4/2016, không đồng ý với Bản án Phúc thẩm, ông D1 tiếp tục đề nghị xem xét giám đốc thẩm đối với Bản án Phúc thẩm. Vào tháng 9/2018, Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao Hà Nội không đồng ý với Bản án Phúc thẩm và quyết định giao vụ án lại cho Toà sơ thẩm Toà án nhân dân thành phố Vĩnh Yên để xét xử lại vụ án. Án lệ này chỉ dựa trên phần “quyền lập di chúc định đoạt đối với đất bị thu hồi.”

Luật áp dụng:

– Các điều 163, 181, 634, 646, 648 Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 ngày 14/06/2005 (“BLDS”); và

– Điều 42 Luật Đất đai số 13/2002/QH 11 ngày 26/11/2003 (“Luật Đất đai”).

Phân tích các vấn đề pháp lý trong Án lệ 34:

Theo nội dung khái quát của Án lệ 34, trong trường hợp quyền sử dụng đất (i) do cá nhân tạo lập hợp pháp mà (ii) khi người đó còn sống, Nhà nước đã có quyết định thu hồi đất và việc thu hồi đất đó thuộc trường hợp được bồi thường. Trường hợp này, phải xác định giá trị quyền sử dụng đất bị thu hồi được bảo đảm bằng giá trị bồi thường nên người có đất bị thu hồi có quyền lập di chúc định đoạt giá trị bồi thường đó.

Điều kiện đầu tiên để áp dụng Án lệ 34 là (i) quyền sử dụng đất phải do cá nhân tạo lập hợp pháp. Trong trường hợp này, ông D và bà C đã mua một thửa đất thông qua một hợp đồng được xác nhận bởi UBND xã T. Sau đó, ông D và bà C đã đổi đất đó với Hợp tác xã N để lấy Thửa đất số 38. Quyền sử dụng đất của họ có thể được công nhận theo Luật Đất đai của Việt Nam nếu họ “đang sử dụng đất ổn định, được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận không có tranh chấp mà có Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15 tháng 10 năm 1993, nay được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đã sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993.”

Điều kiện thứ hai để áp dụng Án lệ 34 là (ii) Nhà nước đã có quyết định thu hồi đất và việc thu hồi đất đó thuộc trường hợp được bồi thường. Theo đó, Thửa đất số 38 đã bị Nhà nước thu hồi theo Quyết định 1208 vào năm 2010, khi ông D và bà C vẫn còn sống. Theo Luật Đất đai, ông D và bà C sẽ “được bồi thường bằng việc giao đất mới có cùng mục đích sử dụng, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm có quyết định thu hồi”. Giá trị quyền sử dụng của Thửa đất 38 vẫn được Nhà nước bảo đảm, do đó, ông D và bà C vẫn có quyền được bồi thường hoặc để lại cho con trai họ, như một tài sản thừa kế, nếu họ đáp ứng các yêu cầu như quy định ở trên.

Kết luận của Tòa án:

Tóm lại, dựa trên các nhận định trên, Tòa án nhân dân cấp cao Hà Nội xác định rằng cần phải xem xét đồng thời tính pháp lý của (i) hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Y và bà C; (ii) di chúc của ông D và ông C cũng như (iii) văn bản công bố di chúc của Phòng Công chứng M đối với di chúc của ông D và bà C về tài sản thừa kế của họ để giải quyết triệt để vụ việc và đảm bảo quyền và lợi ích của đương sự. Do đó, Thẩm phán Tòa án Nhân dân cấp cao Hà Nội đã quyết định hủy bỏ toàn bộ bản án dân sự phúc thẩm số 23/2015/ DS-PT ngày 27/4/2015 và giao hồ sơ vụ án cho Tòa án Nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc để xét xử sơ thẩm lại vụ án theo quy định của pháp luật.


KHUYẾN CÁO

Đây KHÔNG phải là tư vấn pháp lý, nếu muốn được tư vấn độc giả nên liên hệ những luật sư đủ khả năng hành nghề trong lĩnh vực liên quan, các luật sư của VCI Legal chắc chắn nằm trong số đó và rất hân hạnh nếu độc giả muốn chúng tôi tư vấn và đại diện pháp lý. VCI Legal không chịu trách nhiệm nếu một số độc giả sử dụng thông tin trong các BẢN TIN PHÁP LUẬT này để tự giải thích/áp dụng các quy định pháp luật