I. Nguồn án lệ:

Vào ngày 05/02/2020, Án lệ số 33/2020/AL đã được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua và được công bố theo Quyết định số 50/QĐ-CA ngày 25/02/2020 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

Nguồn của án lệ là Quyết định giám đốc thẩm số 34/2018/DS-GĐT ngày 26/6/2018 của Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội (“Ủy ban”) về vụ việc tranh chấp đất đai tại tỉnh Hưng Yên, với thành phần tham gia tố tụng như sau:

(i) Nguyên đơn: Bà Bùi Thị P, anh Lê Ngọc T1 và chị Lê Thị Thanh X;

(ii) Bị đơn: Lê Ngọc T2;

(iii) Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: 6 người.

II. Khái quát nội dung án lệ:

Năm 1973, cụ Lê Ngọc U, là bố chồng của bà Bùi Thị P, được Nhà nước cấp quyền sử dụng đất. Năm 1975, cụ Lê Ngọc U cho phép ông Lê Ngọc T2 (Bị đơn) sử dụng mảnh đất này của cụ. Kể từ năm 1975, ông Lê Ngọc T2 và gia đình của mình đã thực hiện việc sửa chữa, cải tạo lại đất và căn nhà mà ông và gia đình đã xây dựng trên đó. Căn cứ vào hồ sơ ghi nhận và lời khai của các cư dân địa phương, chính quyền địa phương đã xác định rằng, cụ Lê Ngọc U không về thửa đất này ở, cũng không có ý định tranh chấp hay đòi lại đất.

Ngày 20/12/1995, cụ Lê Ngọc U mất, không để lại di chúc. Tháng 6/2009, ông Lê Ngọc H, là con trai duy nhất của cụ Lê Ngọc U cũng qua đời mà không để lại di chúc. Tuy nhiên, trước đó, ông H có dặn vợ của mình là bà Bùi Thị P đòi lại nhà và đất mà ông Lê Ngọc T2 đang sử dụng.

Theo đó, bà Bùi Thị P và các con của mình: ông Lê Ngọc T1 và bà Lê Thị Thanh X (Nguyên đơn) đã yêu cầu ông Lê Ngọc T2 (Bị đơn) trả lại nhà và đất, nhưng ông T2 không đồng ý. Do đó, bà Bùi Thị P và các con của mình đã khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết yêu cầu đòi lại nhà và đất cho mình từ ông Lê Ngọc T2.

Tháng 3/2015, Tòa án nhân dân huyện Phù Cừ đã ban hành phán quyết có lợi cho Nguyên đơn (“Bản án sơ thẩm”). Bị đơn kháng cáo bản án này.

Tháng 9/2017, Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên tuyên rằng Nguyên đơn được công nhận quyền sử dụng đất, tuy nhiên phải hoàn trả lại cho Bị đơn giá trị căn nhà trên mảnh đất này.

Vào ngày 28/3/2017, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao quyết định kháng nghị bản án. Với quyết định Giám đốc thẩm số 34/2018/DS-GDT ngày 26/6/2018, Ủy ban nhận thấy rằng, trong trường hợp này cần xem xét công nhận quyền sử dụng đất và nhà thuộc sở hữu hợp pháp của Bị đơn.

III. Pháp luật áp dụng:

– Điều 170, 185, 190 và 247 Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 ngày 14 tháng 6 năm 2005 (“BLDS 2005”)

IV. Nhận định của Uỷ ban và Luật áp dụng:

Nội dung chính của án lệ này là đưa ra các căn cứ cho việc xác định quyền sở hữu hợp pháp đối với mảnh đất và nhà cho Bị đơn.

Nhận định của Ủy ban dựa trên cơ sở sự công nhận quyền sở hữu của pháp luật Việt Nam về quyền chiếm hữu tài sản ngay tình (hay còn gọi là “quyền chiếm dụng”). Việc chiếm hữu tài sản ngay tình công khai và liên tục trong khoảng thời gian hơn 30 năm đối với bất động sản được quy định tại Điều 170.7 và 247.1 BLDS 2005. Ủy ban nhận thấy rằng, Bị đơn đã đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật để trở thành chủ sở hữu hợp pháp đối với đất và nhà trong vụ việc này. Cụ thể:

(i) Chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình: Theo quy định tại Điều 189 BLDS 2005 thì chiếm hữu không có căn cứu pháp luật nhưng ngay tình là “người chiếm hữu mà không biết hoặc không thể biết việc chiếm hữu tài sản đó là không có căn cứ pháp luật”. Trong vụ việc này, quyền sử dụng mảnh đất của Bị đơn đã được công nhận bởi cụ Lê Ngọc U, chủ sở hữu hợp pháp ban đầu của mảnh đất. Sau khi cụ Lê Ngọc U mất, con trai cụ, ông Lê Ngọc H cũng đã có văn bản xác nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho Bị đơn. Ngoài ra, trên thực tế, việc Bị đơn xây dựng nhà và sinh sống trên mảnh đất này cũng là một minh chứng cho thấy Bị đơn đã sử dụng đất một cách ngay tình.

(ii) Chiếm hữu liên tục: Theo quy định của BLDS 2005, chiếm hữu liên tục được hiểu là “Việc chiếm hữu tài sản được thực hiện trong một khoảng thời gian mà không có tranh chấp về tài sản đó. Trong vụ việc này, Chính quyền địa phương đã xác nhận rằng, không có bất kỳ tranh chấp nào được diễn ra liên quan đến mảnh đất này kể từ năm 1975 cho đến thời điểm Nguyên đơn nộp đơn khởi kiện.

(iii) Chiếm hữu công khai: Theo quy định của BLDS 2005, chiếm hữu công khai được hiểu là việc thực hiện một cách minh bạch, không giấu giếm; tài sản đang chiếm hữu được sử dụng theo tính năng, công dụng và được người chiếm hữu bảo quản, giữ gìn như tài sản của chính mình. Kể từ thời điểm nhận được đất, Bị đơn đã xây nhà và sinh sống ổn định trên mảnh đất này, đồng thời kê khai và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước. Ủy ban cũng xác định trong án lệ rằng, Bị đơn đã đáp ứng đầy đủ các điều kiện để được cấp giấy chứng nhận quyền sử đất theo quy định của pháp luật đất đai. Do đó, Bị đơn được công nhận là đã chiếm hữu mảnh đất này một cách công khai, không giấu giếm.

V. Kết luận của Ủy ban.

Ủy ban nhận thấy rằng, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm chỉ căn cứ vào việc cụ Lê Ngọc U được cấp đất để chấp nhận yêu cầu của Nguyên đơn là không đúng, không bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Bị đơn.

Ủy ban cũng quyết định hủy toàn bộ Bản án dân sự phúc thẩm số 25/2017/DS-PT ngày 28/9/2017 và giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử phúc thẩm lại vụ án theo đúng quy định pháp luật.


KHUYẾN CÁO

Đây KHÔNG phải là tư vấn pháp lý, nếu muốn được tư vấn độc giả nên liên hệ những luật sư đủ khả năng hành nghề trong lĩnh vực liên quan, các luật sư của VCI Legal chắc chắn nằm trong số đó và rất hân hạnh nếu độc giả muốn chúng tôi tư vấn và đại diện pháp lý. VCI Legal không chịu trách nhiệm nếu một số độc giả sử dụng thông tin trong các BẢN TIN PHÁP LUẬT này để tự giải thích/áp dụng các quy định pháp luật