Ngày 30/3/2020, Tòa án nhân dân Tối cao (sau đây gọi là TANDTC) đã ban hành Công văn số 45/TANDTC-PC về việc xét xử tội phạm liên quan đến phòng, chống dịch bệnh COVID-19. Theo đó, Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn Tòa án nhân dân các cấp, Tòa án quân sự các cấp tổ chức xét xử đối với một số hành vi vi phạm pháp luật có đủ yếu tố cấu thành tội phạm trong phòng, chống dịch bệnh theo quy định của Bộ luật Hình sự 2015 như sau:

  1. Người đã được thông báo mắc bệnh, người nghi ngờ mắc bệnh hoặc trở về từ vùng có dịch bệnh COVID-19 đã được thông báo cách ly thực hiện một trong các hành vi sau gây lân lan truyền dịch bệnh COVID-19 cho người khác thì bị xử lý về tội “làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm cho người” theo điểm c Khoản 1 Điều 240:
  • Trốn khỏi nơi cách ly;
  • Không tuân thủ quy định về cách ly;
  • Từ chối, trốn tránh việc áp dụng biện pháp cách ly, cưỡng chế cách ly;
  • Không khai báo y tế, khai báo không đầy đủ hoặc khai báo gian dối.
  1. Người chưa bị xác định mắc bệnh COVID-19 nhưng sống trong khu vực đã có quyết định cách ly, quyết định phong tỏa thực hiện một trong các hành vi sau gây thiệt hại từ 100.000.000 đồng trở lên do phát sinh chi phí phòng, chống dịch bệnh thì bị xử lý về tội “vi phạm quy định về an toàn nơi đông người” theo Điều 295:
  • Trốn khỏi khu vực bị cách ly, khu vực bị phong tỏa;
  • Không tuân thủ quy định cách ly;
  • Từ chối, trốn tránh việc áp dụng biện pháp cách ly, cưỡng chế cách ly;
  • Không khai báo y tế, khai báo không đầy đủ hoặc khai báo gian dối.
  1. Chủ cơ sở kinh doanh, người quản lý cơ sở kinh doanh dịch vụ thực hiện hoạt động kinh doanh khi đã có quyết định tạm đình chỉ hoạt động kinh doanh để phòng chống dịch bệnh COVID-19 của cơ quan, người có thẩm quyền gây thiệt hại từ 100.000.000 đồng trở lên thì bị xử lý về tội “vi phạm quy định về an toàn nơi đông người” theo Điều 295.
  2. Người có hành vi đưa lên mạng máy tính, mạng viễn thông thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật, thông tin xuyên tạc về tình hình dịch bệnh COVID-19 gây dư luận xấu thì bị xử lý tội “đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông” theo Điều 288.
  3. Người có hành vi đưa trái phép thông tin cá nhân, bí mật đời tư xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của nhân viên y tế, người tham gia phòng, chống dịch bệnh COVID-19, người mắc bệnh, người nghi ngờ mắc bệnh COVID-19 bị xử lý về tội “làm nhục người khác” theo Điều 155.
  4. Người có hành vi lợi dụng dịch bệnh COVID-19 đưa ra thông tin không đúng sự thật về công dụng của thuốc, vật tư y tế về phòng, chống dịch bệnh nhằm chiếm đoạt tài sản người khác thì bị xử lý tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” của người khác theo Điều 174.
  5. Người có hành vi đã, đang hoặc nhằm đưa trái phép thuốc, vật tư y tế dùng vào việc phòng, chống dịch bệnh COVID-19 ra khỏi biên giới nước Việt Nam nhằm thu lợi bất chính thì bị xử lý tội “buôn lậu” theo Điều 188.
  6. Người có hành vi lợi dụng sự khan hiếm hoặc tạo ra sự khan hiếm giả tạo trong tình hình dịch bệnh COVID-19 để mua vét hàng hóa đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công bố là mặt hàng bình ổn giá hoặc hàng hóa được Nhà nước định giá nhằm bán lại để thu lợi bất chính thì bị xử lý về tội “đầu cơ” theo Điều 196.
  7. Người có hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc thủ đoạn cản trở người thi hành công vụ trong phòng, chống dịch bệnh COVID-19 thì bị xử lý về tội “chống người thi hành công vụ” theo Điều 330.
  8. Người có trách nhiệm trong phòng, chống dịch bệnh COVID-19 nhưng không triển khai hoặc triển khai không kịp thời, không đầy đủ các biện pháp phòng, chống dịch bệnh theo quy định gây hậu quả nghiêm trọng thì bị xử lý về tội “thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” theo Điều 360.

Ngoài ra, Tòa án nhân dân tối cao nhấn mạnh áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với trường hợp phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng (như làm lây lan dịch bệnh cho từ 02 người trở lên, làm chết người, …). Áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với trường hợp phạm tội chưa gây ra hậu quả hoặc gây hậu quả ít nghiêm trọng (như chưa làm lây lan dịch bệnh).

Thời gian vừa qua, đã có không ít trường hợp vi phạm các quy định nêu trên có thể bị đưa ra xét xử tại Tòa án có thẩm quyền. Trong đó, trường hợp BN 17 tại Hà Nội, sau khi trở về từ vùng dịch đã không thực hiện khai báo y tế và trốn tránh việc cách ly, hay BN 34 tại Bình Thuận có hành vi khai báo không trung thực khi đã được xác định dương tính với COVID-19. Theo đó, cả hai trường hợp đều đủ yếu tố cấu thành tội “làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho người”. Tùy vào mức độ gây thiệt hại và khả năng lây lan dịch bệnh, người phạm tội có thể bị xử lý ở các khung hình phạt khác nhau gồm:

(i) bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm;

(ii) bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm;

(iii) bị phạt từ từ 10 năm đến 12 năm.

Trên thực tế, hành vi phạm tội của BN 17 và BN 34 chưa gây chết người và dẫn đến công bố dịch nên có thể bị xử lý theo khung hình phạt (i) trên đây và các hình phạt nghiêm khắc khác do làm lây lan dịch bệnh cho 02 người trở lên.

Như vậy, TANDTC đã có quyết định đưa các vụ án liên quan đến phòng chống dịch bệnh COVID-19 ra xét xử để cảnh cáo, răn đe người phạm tội. Đây là một quyết định hết sức cần thiết trong tình hình dịch bệnh hiện nay nhằm đảm bảo công tác giáo dục ý thức cộng đồng về công tác phòng chống COVID-19.


KHUYẾN CÁO

Đây KHÔNG phải là tư vấn pháp lý, nếu muốn được tư vấn độc giả nên liên hệ những luật sư đủ khả năng hành nghề trong lĩnh vực liên quan, các luật sư của VCI Legal chắc chắn nằm trong số đó và rất hân hạnh nếu độc giả muốn chúng tôi tư vấn và đại diện pháp lý. VCI Legal không chịu trách nhiệm nếu một số độc giả sử dụng thông tin trong các BẢN TIN PHÁP LUẬT này để tự giải thích/áp dụng các quy định pháp luật