1. Đặt vấn đề

Ngày 30/03/2020, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (“TANDTC”) đã ban hành Công văn số 45/TANDTC-PC về việc xét xử tội phạm liên quan đến phòng, chống dịch bệnh COVID-19 (“Công văn 45”), theo đó hướng dẫn cụ thể về việc xác định tội danh liên quan đến công tác phòng, chống dịch COVID-19 theo quy định của Bộ luật Hình sự 2015 (“BLHS”).

Trong thời gian vừa qua, Bệnh nhân 17 (“BN 17”) và Bệnh nhân 34 (“BN34”), từng được xác định dương tính với virus SARS-CoV-2 tại Việt Nam, là hai trường hợp gây khá nhiều tranh cãi và trở thành đề tài được bàn luận sôi nổi liên quan đến trách nhiệm hình sự có thể đặt ra. Hai trường hợp này đều có những hành vi liên quan đến tội “làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm cho người” quy định tại Điều 240, BLHS nhưng lại có các đặc điểm khác nhau trong việc thực hiện hành vi.

Vậy liệu hai trường hợp này có đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm hay không? Nếu có thì mức phạt nào có thể áp dụng đối với Bệnh nhân 17 và 34 theo quy định về pháp luật hình sự?

  1. Quy định pháp luật liên quan

“Tội làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm cho người” được quy định tại Điều 240 BLHS như sau:

“1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho người, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

… c) Hành vi khác làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người.”

Để cụ thể hóa việc xác định tội danh liên quan đến dịch COVID-10 được hướng, Công văn 45 của TANDTC đã có hướng dẫn chi tiết như sau:

“1. Người đã được thông báo mắc bệnh, người nghi ngờ mắc bệnh hoặc trở về từ vùng có dịch bệnh COVID-19 đã được thông báo cách ly thực hiện một trong các hành vi sau gây lân lan truyền dịch bệnh COVID-19 cho người khác thì bị xử lý về tội “làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm cho người” theo điểm c khoản 1 Điều 240 Bộ luật Hình sự:

  • Trốn khỏi nơi cách ly;
  • Không tuân thủ quy định về cách ly;
  • Từ chối, trốn tránh việc áp dụng biện pháp cách ly, cưỡng chế cách ly;
  • Không khai báo y tế, khai báo không đầy đủ hoặc khai báo gian dối.”

Như vậy, theo quy định tại BLHS và hướng dẫn tại Công văn 45, các yếu tố cấu thành tội “làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm cho người” gồm:

i. Chủ thể thực hiện tội phạm này là người

  • đã được thông báo mắc bệnh; hoặc
  • nghi ngờ mắc bệnh; hoặc
  • trở về từ vùng có dịch bệnh COVID-19 đã được thông báo cách ly.

ii. Hành vi khách quan của tội phạm bao gồm:

  • trốn khỏi nơi cách ly; hoặc
  • không tuân thủ quy định về cách ly; hoặc
  • từ chối, trốn tránh việc áp dụng biện pháp cách ly, cưỡng chế cách ly; hoặc
  • không khai báo y tế, khai báo không đầy đủ hoặc khai báo gian dối.

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng hành vi khách quan của tội phạm không chỉ giới hạn bởi 4 nhóm hành vi theo hướng dẫn tại Công văn 45. Mà hành vi khách quan đối với tội phạm này còn là bất kỳ hành vi nào khác dẫn tới hậu quả làm lây lan dịch bệnh theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 240 BLHS.

iii. Hậu quả là làm lây lan dịch bệnh cho người khác, tức là do hành vi khách quan của chủ thể làm các cá nhân khác bị nhiễm bệnh, hay nói cách khác là những người này được xác định dương tính với virus SARS-CoV-2.

  1. Phân tích hành vi cụ thể và nội dung áp dụng pháp luật

3.1. Trường hợp BN 17:

– Theo Trang thông tin điện tử của Bộ Y tế, trước khi về Việt Nam vào ngày 02/3/2020, BN 17 đã nhập cảnh tại London (Anh) ngày 15/2, bay sang Milan (Lombardy, Ý) ngày 18/2, trở về London (Anh) ngày 20/2, sau đó ngày 25/2, BN 17 sang Paris (Pháp) du lịch 1 ngày rồi quay trở về Anh.

(i) Xem xét yếu tố về mặt Chủ thể:

  • Để xác định tư cách chủ thể của BN 17, thì việc cần thiết là phải xác định BN 17 có phải là người trở về từ vùng có dịch bệnh COVID-19 hay không.
  • Theo Công văn số 991/BYT-DP ngày 29/2/2020 của Bộ Y tế về việc tổ chức cách ly người từ vùng dịch COVID-19 (“Công văn 991/BYT-DP”), Bộ Y tế đã đề nghị cơ quan địa phương áp dụng khai báo y tế và cách ly đối với người nhập cảnh từ các vùng dịch tại Ý, cụ thể tính đến ngày 29/2/2020, Ý có 889 trường hợp mắc COVID-19. Tuy nhiên, vào khoảng thời gian BN 17 lưu trú tại Milan, tỉnh Lombardy (Ý) chưa ghi nhận ca nhiễm COVID-19. Do vậy, xét theo các hướng dẫn của Bộ Y tế tại thời điểm đó, chưa thể xác định BN 17 trở về từ Ý là vùng có dịch.

(ii) Xem xét yếu tố về hành vi khách quan:

  • Cũng tại Công văn 991/BYT-DP, Bộ Y tế yêu cầu tất cả người nhập cảnh từ các quốc gia đang có dịch, trong đó có Ý, phải thực hiện khai báo y tế và kiểm dịch y tế tại cửa khẩu. Tuy nhiên, vào ngày 02/3/2020, khi làm thủ tục nhập cảnh tại cửa khẩu Nội Bài, BN 17 đã không chủ động thực hiện khai báo y tế và sử dụng hộ chiếu Việt Nam (không có dấu kiểm chứng nhập xuất cảnh của nước Ý) để được nhập cảnh vào Việt Nam.
  • Trước đó, ngày 29/02/2020, BN 17 có biểu hiện ho, đến ngày 01/3/2020, BN 17 đau mỏi người, không rõ sốt. Tuy nhiên, tại thời điểm nhập cảnh vào Việt Nam, BN 17 đã không khai báo tình hình sức khỏe với cơ quan thẩm quyền để được theo dõi, xét nghiệm.
  • Theo những phân tích nêu trên, hành vi không chủ động thực hiện khai báo y tế, cụ thể là khai báo việc đã nhập cảnh tại Ý, của BN 17 có thể được xem là hành vi không khai báo và che giấu thông tin sức khỏe. Đây là hành vi thuộc 1 trong 4 nhóm hành vi phạm tội theo hướng dẫn của Công văn 45.

(iii) Xem xét yếu tố về mặt hậu quả:

  • Theo diễn biến tình hình các ca nhiễm COVID-19 tại Việt Nam, đã có 03 trường hợp dương tính với virus SARS-CoV-2 liên quan đến BN 17, gồm 01 lái xe, 01 người nhà và 01 người ngồi cùng chuyến bay. Hơn nữa, hành vi không khai báo y tế để được cách ly kịp thời của BN 17 đã khiến cả khu vực phường Trúc Bạch (quận Ba Đình, Hà Nội) phải cách ly 14 ngày, làm ảnh hưởng tới sinh hoạt dân cư và các hoạt động kinh tế tại khu vực. Việc xác định hậu quả và đánh giá mức độ lây lan cho người khác do hành vi vi phạm của BN 17 là một yếu tố quan trọng để xác định tội “làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm cho người” theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 240 Bộ luật Hình sự.

Như vậy, theo những phân tích nghiên cứu trên đây, có thể thấy vẫn còn một số yếu tố chưa thể làm rõ, cụ thể là việc định nghĩa các cụm từ, thuật ngữ chuyên môn, để xác định được hành vi của BN 17. Do vậy, cần thiết phải có các quy định hướng dẫn, định nghĩa cụ thể hơn, như người trở về từ vùng có dịch bệnh COVID-19 được xác định như thế nào, … làm căn cứ xác định tội danh rõ ràng,

Một điều nữa là việc xem xét yếu tố lỗi trong trường hợp này chỉ nhằm xác định mức phạt nếu có trách nhiệm hình sự được đặt ra. Trên thực tế, BN 17 đã nhận thức được mình có nguy cơ mắc bệnh khi tự chủ động cách ly tại nhà và khám bệnh tại Bệnh viện Hồng Ngọc nhưng đã không khai báo với cơ quan có thẩm quyền. Tuy nhiên, điều này chưa là cơ sở vững chắc để khẳng định đây là lỗi cố ý gián tiếp hay chỉ là lỗi vô ý do sự chủ quan nhất thời của BN 17.

3.2. Trường hợp BN 34:

– Theo Trang thông tin điện tử của Bộ Y tế, BN 34 được xác định dương tính với virus SARS-CoV-2 vào 10/3 và điều trị tại Bệnh viên đa khoa tỉnh Bình Thuận. Theo diễn biến tình hình các ca nhiễm COVID-19 ở Việt Nam, đã có hơn 10 ca nhiễm lây lan từ nguồn bệnh của BN 34.  Trong suốt quá trình khai báo y tế, BN 34 liên tục cung cấp thông tính không đầy đủ và thiếu trung thực về lịch trình di chuyển, số người đã tiếp xúc, …

(i) Xem xét yếu tố về mặt Chủ thể:

  • Như đã nêu, BN 34 được xác định dương tính với virus SARS-CoV-2 vào 10/3. Vì vậy, việc xác định BN 34, người nhiễm bệnh và cách ly tại cơ sở y tế, là chủ thể của tội phạm này là khá rõ ràng.

(ii) Xem xét yếu tố về hành vi khách quan:

  • Trong quá trình lập danh sách tiếp xúc và lịch trình di chuyển của BN 34, BN 34 đã khai báo lần đầu tiên rằng chỉ tiếp xúc với 17 người. Tuy nhiên, sau đó BN thay đổi thông tin số người tiếp xúc là 21, 31, 46… khi cơ quan địa phương xác định hành trình di chuyển phức tạp của BN và can thiệp sâu để điều tra.
  • Rõ ràng đây là trường hợp có hành vi khai báo không đầy đủ và không trung thực tại thời điểm BN 34 đã được xác nhận dương tính với virus SARS-CoV-2. Rõ ràng, hành vi này của BN 34 thuộc 1 trong 4 nhóm hành vi được liệt kê tại Công văn 45.

(iii) Xem xét yếu tố về mặt hậu quả:

Xét thấy, hậu quả mà hành vi của BN 34 gây ra còn nghiêm trọng hơn so với trường hợp BN 17 đã phân tích khi làm lây lan hơn 10 cá nhân khác. Ngoài ra, do hành vi khai báo không trung thực, không đầy đủ của BN 34, công tác xác định danh sách theo dõi, cách ly của cơ quan chức năng gặp khó khăn.

(iv) Xem xét yếu tố về mặt lỗi:

Có thể nhận thấy việc liên tục khai báo thiếu trung thực, quanh co… khiến cho tình trạng chống dịch thêm khó khăn là hành vi xuất phát từ sự cố ý với sự nhận thức rõ ràng của bản thân BN 34 đối với hành vi đó. Hành vi vi phạm một cách cố ý này của BN 34 đã gây khó khăn cho cơ quan chức năng trong việc phòng chống lây nhiễm, dẫn đến dịch bệnh lây lan cho nhiều người khác. Đây là một yếu tố cần được xem xét để áp dụng mức phạt khi tội danh đã được xác định.

Bằng những phân tích trên đây, có thể xác định trường hợp BN 34 có đầy đủ yếu tố cấu thành tội phạm “làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm cho người” theo Điều 240 BLHS. Ngoài ra, dựa trên mức độ nghiêm trọng của hậu quả do hành vi vi phạm của BN 34 gây ra, BN 34 phải được xử lý trách nhiệm hình sự nghiêm khắc theo khung hình phạt cơ bản gồm phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

  1. Kết luận

Tóm lại, trong việc xác định tội danh liên quan đến công tác phòng chống COVID-19, Công văn 45 được ban hành nhằm thực hiện chủ trương kiên quyết xử lý các trường hợp phạm tội làm ảnh hưởng đến công tác phòng chống dịch bệnh của toàn xã hội, thúc đẩy công tác giáo dục ý thức cộng đồng.

Tuy nhiên, một số trường hợp vẫn còn gặp phải khó khăn nhất định khi thiếu các quy định rõ ràng hay các định nghĩa cụ thể. Do đó, cần thiết phải có những văn bản của các cơ quan hữu quan nhằm hướng dẫn chi tiết hơn về hành vi vi phạm, mức phạt tương ứng với mức độ hậu quả, … để đảm bảo việc xác định tội danh và trách nhiệm pháp lý đồng nhất, hiệu quả.

Tin liên quan


KHUYẾN CÁO

Đây KHÔNG phải là tư vấn pháp lý, nếu muốn được tư vấn độc giả nên liên hệ những luật sư đủ khả năng hành nghề trong lĩnh vực liên quan, các luật sư của VCI Legal chắc chắn nằm trong số đó và rất hân hạnh nếu độc giả muốn chúng tôi tư vấn và đại diện pháp lý. VCI Legal không chịu trách nhiệm nếu một số độc giả sử dụng thông tin trong các BẢN TIN PHÁP LUẬT này để tự giải thích/áp dụng các quy định pháp luật