Vào 25-2-2020, Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao đã ban hành Quyết định số 50/QĐ-CA về công bố án lệ, cùng với 07 án lệ khác, Án lệ số 37/2020/AL (“Án lệ 37”) đã được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua. Án lệ 37 đươc thông qua dựa theo Quyết định giám đốc thẩm số 28/2018/KDTM-GĐT ngày 26 tháng 6 năm 2018 của Tòa án nhân dân cấp cao thành phố Hồ Chí Minh về vụ án kinh doanh thương mại “Tranh chấp hợp đồng bảo hiểm” tại tỉnh Đồng Nai giữa nguyên đơn là Công ty trách nhiệm hữu hạn N (“N”) và bị đơn là Công ty bảo hiểm P (“P”).

Án lệ 37 xoay quanh vấn đề hiệu lực của Hợp đồng bảo hiểm tài sản trong trường hợp bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo hiểm sau khi thời hạn đóng phí bảo hiểm theo thỏa thuận trong Hợp đồng bảo hiểm tài sản đã kết thúc.

  1. Bối cảnh:

N cung cấp, lắp đặt và vận hành hệ thống lò hơi cho Công ty cổ phần giấy S (“Công ty giấy”). N và Công ty bảo hiểm P1 (“P1”), công ty con của P, ký kết 05 Hợp đồng bảo hiểm nồi hơi và bảo hiểm trách nhiệm công cộng, bao gồm Hợp đồng bảo hiểm nồi hơi số P-15/DNI/XCG/3201/0006 ngày 26-3-2015 (“Hợp đồng số 6”) và Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm công cộng số P-15/DNI/XCG/3303/0010 ngày 26-3-2015 (“Hợp đồng số 10”).

Hệ thống lò hơi bao gồm 03 lò hơi với công suất từ 25 đến 30 tấn/giờ. Sự việc xảy ra vào khoảng 12:30 tối ngày 13-11-2015.

Lò hơi số 3 phát nổ, làm chết người trong nhóm công nhân của N đang vận hành lò tại thời điểm đó. Vụ nổ gây cháy dữ dội, làm thiệt hại nặng nề tới cơ sở vật chất xung quanh. Ngay sau khi sự cố xảy ra, lãnh đạo tỉnh cùng các tổ chức có liên quan và ban quản lý công ty đã thực hiện các biện pháp khắc phục sự cố. Lực lượng Phòng Cảnh sát điều tra tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tiến hành điều tra vụ việc và đưa ra kết luận vụ nổ xảy ra do lỗi kĩ thuật, không có dấu hiệu tội phạm.

Sự cố nổ lò hơi không chỉ gây ra thiệt hại cho những tài sản của N mà còn ảnh hưởng đến tài sản của Công ty giấy. Những tài sản bị thiệt hại tại Công ty giấy nằm trong phạm vi bảo hiểm theo Giấy chứng nhận bảo hiểm theo Hợp đồng số 6 và Hợp đồng số 10. Tuy nhiên, khi N yêu cầu được bồi thường bảo hiểm về giá trị bị thiệt hại theo hợp đồng, P từ chối, cho rằng Hợp đồng số 6 và Hợp đồng số 10 không có hiệu lực.

  1. Lập luận:

P cho rằng vì N chậm nộp tiền phí bảo hiểm, nên Hợp đồng số 06 và Hợp đồng số 10 không có hiệu lực. Ngày cuối cùng phải đóng tiền phí bảo hiểm là ngày 01-5-2015, nhưng đến ngày 07-5-2015, N mới chuyển tiền đóng phí bảo hiểm cho P.

P cho rằng cả hợp đồng bảo hiểm đều đã chấm dứt hiệu lực vào ngày 01-05-2015, trước thời điểm xảy ra tổn thất ngày 13-11-2015. P cho rằng mình không có bất cứ nghĩa vụ bảo hiểm nào liên quan đến tổn thất chính gây ra bởi vụ nổ (theo Hợp đồng số 6) cũng như bất cứ nghĩa vụ bảo hiểm nào đối với các trách nhiệm pháp lý của N đối với bên thứ ba liên quan đến tổn thất do sự  cố nổ lò hơi số 3 gây ra (theo Hợp đồng số 10).

N cho rằng sau khi nhận tiền phí bảo hiểm từ N, P không có ý kiến gì và cũng không có văn bản thông báo về về việc đóng tiền phí bảo hiểm chậm thì hai Hợp đồng trên đã không còn hiệu lực từ ngày 01-5-2015. P vẫn nhận tiền phí bảo hiểm, xuất hóa đơn giá trị gia tăng và báo cáo thuế về hai khoản tiền đóng bảo hiểm này của N. Do vậy, N cho rằng P phải thực hiện nghĩa vụ bảo hiểm đối với N cho những tổn thất trong phạm vi bảo hiểm tại Hợp đồng số 6 và Hợp đồng số 10.

  1. Quyết định của Tòa án:

Tòa án nhân dân cấp cao thành phố Hồ Chí Minh đưa ra quan điểm cho rằng, theo Điều 287 của Bộ luật Dân sự năm 2005 (Điều 354 của Bộ luật Dân sự năm 2015): Bên có nghĩa vụ được hoãn việc thực hiện nghĩa vụ, nếu được bên có quyền đồng ý. Việc thực hiện nghĩa vụ dân sự khi được hoãn vẫn được coi là thực hiện đúng thời hạn.

P không có ý kiến gì và cũng không có văn bản thông báo về việc Hợp đồng số 6 và Hợp đồng số 10 không còn hiệu lực kể từ ngày 01-5-2015 do đóng tiền phí bảo hiểm chậm. P thậm chí còn xuất hoá đơn giá trị gia tăng và báo cáo thuế về các khoản tiền đóng bảo hiểm này. Bằng những hành vi này, P đã mặc nhiên thừa nhận các khoản tiền đóng phí bảo hiểm này, “đồng ý” với việc N đóng tiền phí bảo hiểm chậm. Như vậy, N vẫn được coi như đã “thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn”.

Chính vì vậy, khi sự kiện bảo hiểm xảy ra, P có trách nhiệm bồi thường theo thoả thuận của hai bên theo các điều khoản trong Hợp đồng số 6 và Hợp đồng số 10.

Cơ sở pháp lý:

– Các Điều 285,287 Bộ luật Dân sự năm 2005 (tương ứng với các điều 278, 354 Bộ luật Dân sự năm 2015);

– Các Điều 15, 23 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2010).

  1. Kết luận:

Trong trường hợp sau khi kết thúc thời hạn đóng phí bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm tài sản, bên mua bảo hiểm mới đóng phí bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo hiểm, nếu doanh nghiệp bảo hiểm không có ý kiến gì, không có văn bản thông báo cho bên mua bảo hiểm về việc chấm dứt hợp đồng mà vẫn nhận phí bảo hiểm, xuất hóa đơn giá trị gia tăng và báo cáo thuế về khoản tiền đóng phí bảo hiểm thì khi sự kiện bảo hiểm xảy ra, hợp đồng bảo hiểm vẫn sẽ có hiệu lực thi hành, doanh nghiệp bảo hiểm phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người được bảo hiểm.


KHUYẾN CÁO

Đây KHÔNG phải là tư vấn pháp lý, nếu muốn được tư vấn độc giả nên liên hệ những luật sư đủ khả năng hành nghề trong lĩnh vực liên quan, các luật sư của VCI Legal chắc chắn nằm trong số đó và rất hân hạnh nếu độc giả muốn chúng tôi tư vấn và đại diện pháp lý. VCI Legal không chịu trách nhiệm nếu một số độc giả sử dụng thông tin trong các BẢN TIN PHÁP LUẬT này để tự giải thích/áp dụng các quy định pháp luật