Xung đột về lãnh thổ ở Biển Đông

Tranh chấp Biển Đông liên quan đến các yêu sách về các đảo và vùng biển giữa các quốc gia có liên quan trong khu vực. Các tranh chấp này bao gồm các đảo, bãi đá ngầm, đường bờ biển và các cấu trúc khác ở Biển Đông, trong đó có quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, bãi cạn Scarborough và các khu vực khác trong Vịnh Bắc Bộ. Khu vực biển này chiếm khoảng một phần ba thương mại hàng hải toàn cầu, đây là một trong những lý do chính gây nên những tranh chấp về lãnh thổ đối với khu vực này. Từ năm 2013, Trung Quốc đã xây dựng các đảo quân sự để tăng cường sức mạnh quốc phòng, đảm bảo đường bở biển của mình trên Biển Đông. Hành động này của họ đã vấp phải sự phản đối từ cộng đồng quốc tế, và kể từ năm 2015, Hoa Kỳ, Vương Quốc Anh và Pháp đã thực hiện hoạt động tự do hàng hải trong khu vực này.

Mới đây, một tàu hải cảnh Trung Quốc đã đâm chìm một tàu đánh cá Việt Nam với 8 ngư dân trên tàu, khi họ đang hành nghề tại khu vực đảo Phú Lâm, gần quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. 8 ngư dân này đã được cứu và đưa đến đảo Phú Lâm. Ba tàu đánh cá khác của Việt Nam đến giải cứu cũng đã bị tàu hải cảnh Trung Quốc xua đuổi, kéo về đảo Phú Lâm và được thả ra cùng ngày. 8 ngư dân sau đó cũng được xác định đã trở lại đất liền an toàn.

Chính Phủ Việt Nam ngay lập tức bày tỏ sự phản đối về sự việc này, đồng thời yêu cầu phía Trung Quốc điều tra, làm rõ và xử lý nghiêm các bên có liên quan. Việt Nam đã gửi công hàm yêu cầu Trung Quốc phải bồi thường thiệt hại do hành vi của mình gây nên. Các quốc gia trên thế giới cũng đã bày tỏ sự quan tâm về vụ việc này. Bộ Ngoại Giao và Quốc Phòng Hoa Kỳ đã ra các tuyên bố chính thức phản đối đối với hành vi của Trung Quốc, và gọi đây là hành vi “bất hợp pháp”. Philippines cũng bày tỏ sự quan ngại và nhấn mạnh sự cần thiết phải ngăn chặn các trường hợp như trên, cho rằng Trung Quốc đã “làm suy yếu tiềm năng của một mối quan hệ khu vực thực sự sâu sắc và đáng tin cậy” giữa Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) với Trung Quốc.

Các khía cạnh pháp lý có liên quan

Để xác định trách nhiệm pháp lý của Trung Quốc đối với tàu cá và ngư dân Việt Nam, vấn đề quan trọng là cần phải xác định các khía cạnh pháp lý có liên quan đến vụ việc này. Theo đó, có vẻ như Trung Quốc đã vi phạm nhiều cam kết quốc tế và pháp luật Việt Nam.

Tuyên bố về Ứng xử của các Bên ở Biển Đông.

Tuyên bố về Ứng xử của các Bên ở Biển Đông (“Tuyên bố”) là tuyên bố bởi các quốc gia thành viên trong khối ASEAN và Trung Quốc trên cơ sở xây dựng mối quan hệ hòa bình, thân thiện và hài hòa ở Biển Đông, nhằm tăng cường sự hòa bình, ổn định, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong khu vực. Một số nguyên tắc có liên quan đến sự việc này đã được các quốc gia thành viên tuyên bố như sau:

  1. Tái khẳng định cam kết của mình đối với các quy định tại Hiến Chương Liên Hợp Quốc, Công ước về Luật Biển năm 1982, và những nguyên tắc được thừa nhận phổ biến khác của luật pháp quốc tế.
  2. Chịu trách nhiệm giải quyết các tranh chấp về lãnh thổ và quyền thực thi luật pháp bằng các phương tiện hòa bình mà không viện dẫn đến sự đe dọa hoặc sử dụng vũ lực, thông qua các cuộc tham vấn và đàm phán thân thiện; và
  3. Chịu trách nhiệm thực hiện sự tự chế trong việc thi hành các hoạt động có thể gây phức tạp hoặc leo thang tranh chấp, ảnh hưởng đến sự hòa bình và ổn định.

Có vẻ như không có bất kỳ nguyên tắc nào ở trên được Chính Phủ Trung Quốc nỗ lực thực hiện trong vụ việc này, tuy nhiên Tuyên bố cũng không đưa ra bất kỳ hiệu lực ràng buộc nào đối với các quốc gia thành viên, cũng như không đưa ra bất kì một điều khoản giải quyết tranh chấp nào đối với các hành vi vi phạm.

Thỏa thuận về những nguyên tắc chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa Việt Nam và Trung Quốc.

Theo Thỏa thuận về những nguyên tắc chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa Việt Nam và Trung Quốc (“Thỏa thuận”), hai bên sẽ giải quyết các tranh chấp trên biển thông qua thương lượng, đàm phán hòa bình trên tinh thần “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đối tác tốt”. Bên cạnh đó, hai bên phải nỗ lực tìm kiếm các giải pháp cơ bản và lâu dài mà hai bên đều có thể chấp nhận được cho các vấn đề tranh chấp trên biển. Hành vi của tàu hải cảnh Trung Quốc gần như đã vi phạm các cam kết nói trên, đặc biệt là đi ngược lại với tinh thần “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đối tác tốt”. Tuy nhiên, Thỏa thuận này cũng không quy định bất kỳ hiệu lực ràng buộc nào.

Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982
Theo Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 (“Công ước”), các quốc gia thành viên phải tránh việc đe dọa hay sử dụng vũ lực để xâm phạm toàn vẹn lãnh thổ hay độc lập chính trị của mọi quốc gia, hay tránh dùng bất kỳ cách nào khác không phù hợp với các nguyên tắc của pháp luật quốc tế được nêu trong Hiến chương Liên Hợp Quốc. Các biện pháp tài phán chỉ có thể được thực hiện khi các bên không thể giải quyết các tranh chấp của mình bằng các biện pháp hòa bình. Cụ thể, khi có tranh chấp xảy ra, các bên tranh chấp phải tiến hành ngay một cuộc trao đổi quan điểm về cách giải quyết tranh chấp bằng thương lượng hoặc các biện pháp hòa bình khác.

Bộ luật Dân sự của Việt Nam.

Vì người bị thiệt hại trong trường hợp này là các ngư dân Việt Nam và nơi xảy ra vụ việc thuộc lãnh thổ của Việt Nam, Bộ luật Dân sự là một trong những quy định pháp luật có liên quan, được áp dụng đối với vụ việc này. Theo quy định tại Điều 584 của Bộ luật Dân sự, bất kỳ người nào có hành vi cố ý hoặc vô ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác mà gây thiệt hại thì phải có trách nhiệm bồi thương cho những thiệt hại đó.

Có thể nói rằng, không có bất kỳ cơ sở pháp lý nào được liệt kê ở trên cho phép Trung Quốc được sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực để giải quyết các tranh chấp lãnh thổ. Điều cần phải làm rõ là liệu Trung Quốc có phải chịu trách nhiệm đối với các thiệt hại của ngư dân hay không.

Cơ chế giải quyết tranh chấp

Trong trường hợp này, các cơ chế giải quyết tranh chấp sau đây có thể được áp dụng trong việc kiện đòi bồi thường thiệt hại của các ngư dân Việt Nam:

Tòa án Việt Nam

Ngư dân có thể khởi kiện vụ việc dân sự đối với Trung Quốc để đòi bồi thường thiệt hại trước Tòa án Việt nam theo quy định của Bộ luật Dân sự. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra ở đây là liệu Trung Quốc có được hưởng quyền miễn trừ tái phán của quốc gia trước Tòa án Việt Nam hay không.

Quyền miễn trừ tài phán, hay rộng hơn là quyền miễn trừ quốc gia, là một nguyên tắc của luật quốc tế, theo đó một quốc gia có chủ quyền không thể bị kiện trước một tòa án của quốc gia khác nếu không có sự đồng ý của quốc gia đó. Pháp luật Việt Nam không quy định việc giới hạn các quyền miễn trừ này, cũng như không có quy định cụ thể về quyền miễn trừ tài phán của quốc gia nước ngoài. Do đó, mặc dù nguyên tắc này được thừa nhận rộng rãi trong các hệ thống pháp luật quốc tế, song vẫn khó có thể xác định rằng Trung Quốc có được hưởng quyền miễn trừ tài phán trước Tòa án Việt Nam hay không.

Tòa án/Trọng tài quốc tế

Theo tinh thần chung tại Công ước, Thỏa thuận cũng như Tuyên bố được liệt kê ở trên, Việt Nam và Trung Quốc thống nhất giải quyết tranh chấp thông qua các biện pháp hòa bình. Tuy nhiên nguyên tắc này không đồng nghĩa với việc Việt Nam không thể lựa chọn các biện pháp khác để giải quyết tranh chấp, bao gồm cả việc khởi kiện Trung Quốc. Lập luận này đã được Tòa Trọng Tài Quốc tế diễn giải trong vụ kiện giữa Philippines và Trung Quốc liên quan đến các tuyên bố đơn phương về Đường Chín Đoạn của Trung Quốc trong việc xác định lãnh thổ ở Biển Đông. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng đã khẳng định không loại trừ khả năng sử dụng các biện pháp tài phán để giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông. Vì vậy, các cơ chế giải quyết tranh chấp theo Công ước có thể là một sự lựa chọn phù hợp cho Việt Nam đối với vụ việc này.

Không có cơ sở pháp lý nào đề cập đến khả năng của Việt Nam có thể thay mặt hoặc nhận ủy quyền từ các ngư dân Việt Nam trong việc kiện đòi bồi thường thiệt hại đối với Trung Quốc. Song, Việt Nam vẫn có thể kiện Trung Quốc do Tàu hải cảnh của Trung Quốc đã có hành vi xâm phạm trái phép Quần đảo Hoàng Sa, thuộc chủ quyền của Việt Nam, sử dụng vũ lực phương hại đến sự toàn vẹn lãnh thổ, độc lập chính trị của Việt Nam.

Theo quy định tại Công ước, Việt Nam có thể yêu cầu Trung Quốc tham gia thủ tục hòa giải theo quy định tại Điều 284. Khi yêu cầu được chấp nhận, thủ tục hòa giải sẽ diễn ra. Tuy nhiên, trong trường hợp yêu cầu không được chấp nhận hoặc các bên không thể đạt được thỏa thuận về việc giải quyết tranh chấp trong quá trình hòa giải, thì thủ tục hòa giải được xem như chấm dứt. Sau khi đã nổ lực giải quyết tranh chấp bằng con đường hòa giải, Việt Nam có thể chọn các cơ chế giải quyết tranh chấp theo quy định tại Điều 287 của Công ước. Tòa Trọng Tài Quốc tế thành lập theo Phụ lục VII của Công ước là cơ quan có khả năng nhất trong trường hợp này, cơ quan này cũng đã được lựa chọn trong vụ kiện giữa Philippines và Trung Quốc.

Theo Công ước, Việt Nam có thể lựa chọn một trong các cơ quan sau đây để giải quyết tranh chấp: (1) Tòa án Quốc tế về Luật Biển thành lập theo Phụ lục VI; (2) Tòa án Công lý Quốc tế; (3) Tòa Trọng Tài Quốc tế thành lập theo Phụ lục VII; và (4) Tòa Trọng Tài đặc biệt thành lập theo Phụ lục VIII. Trong đó, Tòa Trọng Tài Quốc tế là cơ quan duy nhất không cần phải có sự đồng ý của các bên tranh chấp trước khi khởi kiện.


KHUYẾN CÁO

Đây KHÔNG phải là tư vấn pháp lý, nếu muốn được tư vấn độc giả nên liên hệ những luật sư đủ khả năng hành nghề trong lĩnh vực liên quan, các luật sư của VCI Legal chắc chắn nằm trong số đó và rất hân hạnh nếu độc giả muốn chúng tôi tư vấn và đại diện pháp lý. VCI Legal không chịu trách nhiệm nếu một số độc giả sử dụng thông tin trong các BẢN TIN PHÁP LUẬT này để tự giải thích/áp dụng các quy định pháp luật