Ngày 3/2/2016, Chính phủ ban hành Nghị định số 11/2016/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam (“Nghị định số 11”). Nghị định này đã tạo ra khung pháp lý đồng bộ, kịp thời, điều chỉnh quan hệ lao động với người lao động nước ngoài sớm đi vào nề nếp. Nghị định này cũng đã tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức tuyển dụng người lao động nước ngoài vào làm việc, đồng thời giúp cho công tác quản lý người lao động nước ngoài được chặt chẽ hơn trên toàn quốc.

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện Nghị định số 11, đã có một số vướng mắc phát sinh, ví dụ như: (i) quy định về các đối tượng người sử dụng lao động nước ngoài chưa đầy đủ; (ii) quy định đối với người lao động nước ngoài là chuyên gia làm việc tại Việt Nam chưa phù hợp với thực tiễn; (iii) quy định thời gian cung ứng lao động Việt Nam của cơ quan, tổ chức tại địa phương cho nhà thầu còn chưa phù hợp; (iv) quy định về giấy phép lao động (“GPLĐ”), bao gồm GPLĐ bắt buộc cho người nước ngoài làm việc tại Việt Nam trong thời gian ngắn vẫn gây ra rất nhiều khó khăn cho cá nhân người lao động nước ngoài cũng như cho người sử dụng lao động nước ngoài, v.v.

Vì vậy, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đề xuất dự thảo Nghị định quy định về lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam (“Dự thảo Nghị định”) nhằm khắc phục những hạn chế trên. Theo đó, Dự thảo Nghị định có một số điểm chính như sau:

  1. Về đối tượng người sử dụng lao động nước ngoài:

 Dự thảo Nghị định bổ sung thêm hai đối tượng người sử dụng lao động nước ngoài, gồm (i) văn phòng đại diện, chi nhánh của cơ quan, tổ chức được cơ quan có thẩm quyền cấp phép thành lập; và (ii) Tổ chức quốc tế tại Việt Nam; văn phòng của dự án nước ngoài hoặc của tổ chức quốc tế tại Việt Nam; cơ quan, tổ chức do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ, ngành cho phép thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam.

  1. Quy định đối với người lao động nước ngoài là chuyên gia:

Quy định này tại Nghị định 11 còn chưa thực sự phù hợp đối với các trường hợp người nước ngoài có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao làm việc tại Việt Nam. Do đó, Dự thảo Nghị định đã bổ sung cụ thể hơn yêu cầu đối với đối tượng người lao động nước ngoài là chuyên gia. Theo đó, ngoài các yêu cầu đã được đề cập trong Nghị định 11, Dự thảo Nghị định còn yêu cầu các đối tượng này phải có (i) chứng chỉ đào tạo phù hợp với vị trí công việc mà người lao động nước ngoài dự kiến làm việc tại Việt Nam; và (ii) bằng tiến sĩ hoặc có học hàm phó giáo sư hoặc giáo sư phù hợp với vị trí công việc mà người lao động nước ngoài dự kiến làm việc tại Việt Nam. Riêng đối với chức danh giám đốc điều hành, cần có thêm kinh nghiệm quản lý, điều hành ít nhất 12 tháng.

  1. Thời gian cung ứng lao động Việt Nam của cơ quan, tổ chức tại địa phương cho nhà thầu:

Thời hạn cung ứng này được đề xuất điều chỉnh từ 1 tháng xuống còn 20 ngày, tạo điều kiện thuận lợi và phù hợp hơn cho các nhà thầu có nhu cầu tuyển dụng dưới 100 lao động, thay vì phải đợi thời gian cung ứng dài như trước.

  1. Các quy định liên quan đến Giấy phép lao động:

Nghị định 11 yêu cầu người nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam phải có GPLĐ kể cả người nước ngoài làm việc với thời hạn ngắn, gây rất nhiều khó khăn và không phù hợp với thực tế. Do đó, Dự thảo Nghị định đã có đề xuất không cấp GPLĐ đối với các trường hợp người lao động nước ngoài vào Việt Nam làm việc cho vị trí chuyên gia, nhà quản lý, giám đốc điều hành hoặc lao động kỹ thuật có thời gian làm việc dưới 20 ngày. Bên cạnh đó, Dự thảo Nghị định cũng loại bỏ quy định về thời hạn làm việc cộng dồn dưới 90 ngày của người nước ngoài, nhờ đó có thể hạn chế được số lượng người lao động nước ngoài cố gắng ở lại Việt Nam làm việc một cách bất hợp pháp.

Ngoài ra, nhằm giải quyết những điểm chưa phù hợp đối với quy định về hồ sơ đề nghị cấp GPLĐ đối với người lao động nước ngoài, đặc biệt là với đối tượng người lao động nước ngoài có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao hoặc người lao động nước ngoài đã được cấp GPLĐ, Dự thảo Nghị định đã đề xuất cụ thể hơn các yêu cầu trong hồ sơ đề nghị cấp GPLĐ như ban hành kèm phụ lục các biểu mẫu, các yêu cầu về giấy chứng nhận chuyên môn phù hợp với từng loại ngành nghề, …

  1. Cấp lại Giấy phép lao động:

Quy định về các trường hợp cấp lại GPLĐ trong Nghị định 11 còn khá cứng nhắc và chưa phù hợp với tình hình thực tế, cụ thể: (i) yêu cầu người lao động có GPLĐ còn thời hạn ít nhất 05 ngày, nhưng không quá 45 ngày, phải cung cấp giấy chứng nhận sức khỏe hoặc giấy khám sức khỏe phù hợp theo quy định; hoặc (ii) yêu cầu đối với chuyên gia, nhà quản lý, giám đốc điều hành hoặc lao động kỹ thuật là người lao động nước ngoài đã được cấp GPLĐ (theo quy định tại Nghị định số 102/2013/NĐ-CP), là Nghị định đã hết hiệu lực, phải cung cấp văn bản khác chứng minh thì mới được cấp lại GPLĐ. Chính vì lẽ đó, Dự thảo Nghị định đã loại bỏ các quy định cứng nhắc này, đồng thời, quy định cụ thể hơn về hình thức hồ sơ đề nghị cấp lại GPLĐ. Cụ thể, nếu giấy tờ của nước ngoài thì phải hợp pháp hóa lãnh sự và phải dịch ra tiếng Việt trừ trường hợp được miễn hợp pháp hóa lãnh sự theo điều ước quốc tế mà Việt Nam và nước ngoài liên quan đều là thành viên; theo nguyên tắc có đi có lại; hoặc theo quy định của pháp luật.

Nhìn chung, Dự thảo Nghị định điều chỉnh, bổ sung một số điều khoản trong Nghị định 11 tương đối phù hợp với thực tiễn cũng như giúp khắc phục những hạn chế, khó khăn tồn tại trước đó mà các doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân có liên quan đến người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam đang gặp phải.


KHUYẾN CÁO

Đây KHÔNG phải là tư vấn pháp lý, nếu muốn được tư vấn độc giả nên liên hệ những luật sư đủ khả năng hành nghề trong lĩnh vực liên quan, các luật sư của VCI Legal chắc chắn nằm trong số đó và rất hân hạnh nếu độc giả muốn chúng tôi tư vấn và đại diện pháp lý. VCI Legal không chịu trách nhiệm nếu một số độc giả sử dụng thông tin trong các BẢN TIN PHÁP LUẬT này để tự giải thích/áp dụng các quy định pháp luật