Chuyển giá và kiểm soát hành vi chuyển giá trong những năm gần đây đã trở thành một trong những vấn đề nóng bỏng tại Việt Nam. Việt Nam hiện nay vẫn duy trì ổn định sự tăng trưởng trong việc thu hút nguồn đầu tư nước ngoài (“FDI”). Tuy nhiên, hiệu quả thực sự của nguồn vốn FDI vẫn còn tạo ra nhiều tranh cãi. Sự phát triển đáng kể của các công ty FDI tại Việt Nam đã và đang mang đến nhiều vấn đề phức tạp, trong đó có vấn đề về thuế. Chuyển giá là một trong những vấn đề được nhắc đến nhiều nhất.

Thực tiễn cho thấy, có nhiều công ty FDI ở Việt Nam đã liên tục báo cáo thua lỗ, song vẫn tiếp tục mở rộng phạm vi kinh doanh của mình. Thời gian gần đây, Cơ quan Thuế đã bắt đầu thực hiện các cuộc thanh tra, kiểm tra nghiêm ngặt các doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh tại Việt Nam, mà chủ yếu là các công ty FDI. Kết quả thanh tra cho thấy, một số lượng lớn các công ty FDI, có vi phạm về khai báo thuế và có hành vi chuyển giá trái pháp luật. Hàng loạt các công ty FDI, trong đó có cả những công ty lớn đã bị truy thu thế và phạt vi phạm hành chính. Bài viết này sẽ giới thiệu một số thông tin liên quan đến hoạt động gần đây của Cơ quan Thuế Việt Nam nhằm cung cấp cho bạn đọc cái nhìn rõ hơn về tình hình kiểm soát chuyển giá ở Việt Nam.

Việt Nam là một trong các quốc gia có pháp luật quy định về chuyển giá phù hợp với nguyên tắc kiểm toán chung mà thế giới công nhận. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp tại Việt Nam cũng nhận định pháp luật Việt Nam về chuyển giá còn khó hiểu và khó áp dụng. Bài viết này cũng sẽ khái quát một số nguyên tắc cơ bản được quy định trong pháp luật Việt Nam liên quan đến nội dung chuyển giá, cùng một số đề xuất có liên quan.

 Cơ quan Thuế trong hoạt động kiểm soát chuyển giá

Chính sách “mở cửa” thu hút đầu tư nước ngoài và sự ảnh hưởng của các công ty FDI đã mang đến nhiều tác động tích cực đối với sự tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, vẫn có những mặt trái khác tồn tại. Điển hình là số doanh nghiệp có hành vi chuyển giá bất hợp pháp đang tăng lên. Theo báo cáo Kiểm toán Nhà nước (“SAV”), tình trạng các công ty FDI báo cáo thua lỗ khá phổ biến, chiếm đến gần 50% tổng số công ty FDI hiện đang hoạt động tại Việt Nam, trong khi nhiều công ty vốn trong nước cùng ngành nghề như dệt may vẫn sinh lợi nhuận. Riêng tại thành phố Hồ Chí Minh, có hơn 60% trong số 3.500 công ty FDI thường xuyên báo cáo thua lỗ qua các năm. Thực trạng này cho thấy hiệu quả của nguồn vốn FDI phần nào không được như mong đợi. Dù Việt Nam vẫn giữ tốc độ tăng trưởng FDI kỷ lục song sự đóng góp của các dòng vốn này vào sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam vẫn còn tương đối hạn chế và không tỷ lệ thuận với chính sách ưu đãi mà Chính Phủ Việt Nam áp dụng. Nhiều doanh nghiệp FDI tham gia đầu tư vào thị trường Việt Nam do các chính sách ưu đãi về thuế và nhiều ưu đãi đầu tư khác, tuy nhiên một số Công ty lại đang thực hiện các hoạt động chuyển giá bất hợp pháp để tránh phải trả thuế tại Việt Nam.

Để ngăn chặn tình trạng này, nhiều Cơ quan Thuế Việt Nam đã tăng cường việc thanh tra, kiểm tra hoạt động chuyển giá tại các công ty có các giao dịch liên quan. Hoạt động kiểm tra chủ yếu nhắm vào các công ty FDI, được thực hiện tập trung tại 04 thành phố lớn là Hà Nội, Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Bình Dương. Theo đó, chỉ trong năm 2019, Cơ quan Thuế đã thanh tra hơn 800 công ty, chủ yếu là các công ty FDI, với số tiền truy thu thuế và phạt vi phạm hành chính hơn 1.7 nghìn tỷ đồng (khoảng 73 triệu đô la Mỹ), tăng thu nhập chịu thuế lên tới 7.5 nghìn tỷ đồng. Bên cạnh đó, theo ông Nguyễn Đức Huy, Phó vụ trưởng Vụ Tuyên truyền – Hỗ trợ người nộp thuế – Tổng cục Thuế, trong thời gian tới, Cơ quan Thuế sẽ tiếp tục tăng cường thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm. Hoạt động thanh tra, kiểm tra sẽ tập trung vào các công ty có rủi ro cao về thuế; ngành nghề kinh doanh mới; các công ty thường xuyên báo cáo thua lỗ trong nhiều năm liên tiếp. Nhiều chuyên gia cũng đã khuyến nghị Chính Phủ mở rộng thẩm quyền của SAV trong việc đánh giá hiệu quả nguồn vốn FDI thông qua quá trình kiểm toán, nhằm đảm bảo tính hiệu quả của nguồn vốn FDI tại Việt Nam trong thời điểm hiện nay.

Chương trình hành động Chống xói mòn cơ sở tính thuế và chuyển dịch lợi nhuận (BEPS)

Hầu hết các quy định pháp luật Việt Nam về chuyển giá đều lấy cơ sở dựa trên nội dung chống xói mòn cơ sở tính thuế và chuyển dịch lợi nhuận bởi Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD). Chính vì thế, hiểu được nội dung cơ bản của BEPS là bước đầu tiên để nắm bắt quy định pháp luật             Việt Nam về chuyển giá. Dưới đây là kế hoạch hành động BEPS được OECD công bố vào 2014 và được cho là phù hợp với luật pháp Việt Nam về chuyển giá.

Hành động 4: Hạn chế xói mòn cơ sở tính thuế phát sinh từ khấu trừ lợi nhuận và các khoản thanh toán tài chính khác.

Hành động 8: Đảm bảo hiệu quả của hành vi chuyển giá phù hợp với các giá trị tạo ra (liên quan đến các tài sản vô hình)

Hành động 9: Đảm bảo hiệu quả của hành vi chuyển giá phù hợp với các giá trị tạo ra (liên quan đến các rủi ro và vốn)

Hành động 10: Đảm bảo rằng kết quả chuyển giá phù hợp với việc tạo giá trị (các giao dịch có rủi ro cao khác)

Hành động 13: Kiểm tra “lại” tài liệu giao dịch liên kết

Các hoạt động này được đưa ra dựa trên ba nguyên tắc của BEPS. Thứ nhất, phải chuẩn hoá các quy định quốc tế nhằm đảo bảo sự thống nhất (coherence) đối với thuế thu nhập doanh nghiệp trên toàn thế giới (Hành động 4). Thứ hai, tái điều chỉnh bộ máy thuế và các yếu tố (substance) có liên quan để khôi phục lại những hiệu quả mong muốn và ý nghĩa của các tiêu chuẩn quốc tế (Hành động 8 và 10). Cuối cùng, để thành công trong việc chống BEPS cần các doanh nghiệp cần phải nâng cao tính minh bạch, chắc chắn và có sự tiên liệu trong hoạt động kinh doanh của mình (Hành động 13).

Tóm tắt các quy định về giao dịch liên kết tại Việt Nam

Nguyên tắc cơ bản

Quy định của pháp luật Việt Nam về chuyển giá dựa trên hai nguyên tắc cơ bản là nguyên tắc Giao dịch độc lập và nguyên tắc Bản chất quyết định hình thức.

Nguyên tắc Giao dịch độc lập là số tiền mà một bên liên quan tính cho một bên liên quan khác về hàng hóa hay dịch vụ phải giống như các bên không liên quan đến nhau. Do đó, số tiền được tính giữa các bên liên quan sẽ là giá trên thị trường mở theo nguyên tắc Giao dịch độc lập.

Nguyên tắc bản chất quyết định hình thức là việc phân tích chuyển giá không bị giới hạn trong các thỏa thuận hợp đồng mà mở rộng đến bản chất của giao dịch thực tế. Nếu các điều khoản hợp đồng khác với bản chất giao dịch thực tế, thì giao dịch thực tế sẽ được áp dụng theo nguyên tắc bản chất quyết định hình thức.

Các bên liên quan

Nghị định 20/2017/ND-CP ban hành trong tháng 2 năm 2017 (“Nghị định 20”) quy định các trường hợp các bên được coi là các bên liên quan. Các trường hợp sau đây là một số trường hợp Bên A và Bên B được coi là các bên có liên quan.

  • Bên A tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp trong ít nhất 25% vốn cổ phần của Bên B.
  • Bên A là cổ đông có quyền sở hữu cổ phần lớn nhất của Bên B.
  • Bên A bảo lãnh hoặc cho Bên B vay một khoản vay tối thiểu 25% vốn chủ sở hữu của Bên B.
  • Bên A bổ nhiệm hơn 50% thành viên hội đồng quản trị của Bên B.
  • Bên A và Bên B được quản lý hoặc kiểm soát bởi các cá nhân trong mối quan hệ gia đình.

Vì nguyên tắc bản chất quyết định hình thức là nguyên tắc hàng đầu trong các quy định về chuyển giá tại Việt Nam, nên nếu một công ty được kiểm soát hoặc quản lý bởi bên kia, thì các bên nói chung sẽ được coi là các bên có liên quan cho mục đích giao dịch liên kết.

Giao dịch không được khấu trừ giữa các bên liên quan

Khi các bên được coi là các bên có liên quan, nguyên tắc Giao dịch độc lập và nguyên tắc coi trọng nôi dung hơn hình thức sẽ được áp dụng trong việc xác định giao dịch giữa các bên có liên quan được khấu trừ hay không. Ví dụ, chi phí của bên A trả cho bên B trong các giao dịch sau đây thường được coi là chi phí không được khấu trừ nếu cả hai bên được coi là các bên có liên quan.

  • Bên B không tiến hành các hoạt động kinh doanh liên quan đến hoạt động kinh doanh của Bên A;
  • Bên B thực hiện các hoạt động kinh doanh liên quan đến Bên A, nhưng quy mô kinh doanh của Bên A (ví dụ, về tài sản hoặc số lượng nhân viên) không tương ứng với giá trị giao dịch.
  • Bên B là đối tượng cư trú thuộc thẩm quyền nơi không áp dụng hoặc thu thuế thu nhập doanh nghiệp.
  • Các giao dịch trong đó mục đích duy nhất là tạo ra các lợi ích và giá trị cho Bên B.
  • Giao dịch chỉ có lợi cho cổ đông của các bên liên quan.

Các ví dụ trên được tiến hành dựa trên giao dịch song phương giữa chỉ gồm hai bên để bạn đọc dễ hiểu. Tuy nhiên, trên thực tế, có rất nhiều trong số những giao dịch này được tiến hành giữa nhiều hơn hai bên.

Hồ sơ tài liệu yêu cầu trong giao dịch chuyển giá

Nghị định 20/2017/NĐ-CP ban hành tháng 2/2017 đã thống nhất các quy định nằm trong hành động số 13 BEPS của OECD, yêu cầu người nộp thuế phải chuẩn bị các mẫu khai báo bắt buộc nộp cùng với tờ khai thuế. Các tài liệu này bao gồm Hồ sơ toàn cầu, Hồ sơ quốc gia, Báo cáo lợi nhuận liên quốc gia (“Báo cáo CbC”).

Hồ sơ toàn cầu

Hồ sơ toàn cầu phải bao gồm những thông tin có liên quan đến toàn bộ tập đoàn để Cơ quan Thuế có thể có cái nhìn tổng qua tổng quan về giá trị theo chuỗi của tập đoàn và các yếu tố quan trọng ảnh hưởng lợi nhuận kinh doanh của tập đoàn. Dưới đây là một vài ví dụ về một số tài liệu cần thiết (không phải tất cả) cần có trong hồ sơ toàn cầu:

  • Tài liện cấu trúc tổ chức doanh nghiệp;
  • Tài liệu các nguồn lợi nhuận kinh doanh chính;
  • Tài liệu mô tả chuỗi cung ứng hàng hóa và dịch vụ chính của tập đoàn;
  • Tóm tắt các hợp đồng quan trọng và sắp xếp dịch vụ giữa các tổ chức trong tập đoàn;
  • Danh sách tài sản vô hình quan trọng của tập đoàn có tầm quan trọng đáng kể đối với giá trịchuyển nhượng; và
  • Các chính sách tài chính và thuế của Tập đoàn liên quan đến chuyển giá.

Hồ sơ quốc gia

Hồ sơ quốc gia phải bao gồm những thông tin chi tiết về giao dịch giữa các bên liên quan, phân tích chức năng mô tả các giao dịch và phân tích kinh tế hỗ trợ giao dịch. Vì vậy, hồ sơ quốc gia cần bao gồm các nội dung sau:

  • Thông tin liên quan đến các hoạt động kinh doanh của công ty bị áp dụng thuế;
  • Thông tin chi tiết về giao dịch với các bên có liên quan; và
  • Thông tin tài chính của công ty.

Báo cáo CbC

Báo cáo CbC cần bao gồm các chỉ số tài chính và thuế quan trọng của tập đoàn (ví dụ: doanh thu, lợi nhuận, tài sản và số lượng nhân viên) cho từng khu vực pháp lý mà tập đoàn hoạt động. Nó cũng nên bao gồm thông tin về các hoạt động kinh doanh chính / chức năng của tất cả các công ty con trong tập đoàn.

Kết luận

Hành động quyết liệt trong thời gian gần đây của Cơ quan Thuế đã thể hiện sự quyết tâm cao của Việt Nam trong việc ngăn chặn các khoản lỗ ngân sách nói chung và hành vi chuyển giá bất hợp pháp nói riêng, đặc biệt là trong lĩnh vực FDI. Điều này có thể ít nhiều ảnh hưởng tiêu cực đến các Công ty FDI đang hoạt động tại Việt Nam bởi họ có thể phải đối mặt với các loại chế tài vi phạm hành chính, thậm chí là truy cứu trách nhiệm hình sự.

Chính phủ Việt Nam đã bày tỏ mối quan tâm sâu sắc đến tình trạng trốn thuế của các nhà đầu tư nước ngoài, chú trọng xây dựng các quy định nghiêm khắc hơn liên quan đến hoạt động chuyển giá. Tuy nhiên, những quy định về chuyển giá có thể dễ dàng bị vi phạm do vô tình, bất cẩn hoặc vô ý chứ không phải cố ý trốn tránh các nghĩa vụ thuế. Chính vì thế, một sự hỗ trợ chuyên nghiệp và kịp thời là cần thiết để tránh phát sinh các vấn đề giao dịch liên kết có liên quan.


KHUYẾN CÁO

Đây KHÔNG phải là tư vấn pháp lý, nếu muốn được tư vấn độc giả nên liên hệ những luật sư đủ khả năng hành nghề trong lĩnh vực liên quan, các luật sư của VCI Legal chắc chắn nằm trong số đó và rất hân hạnh nếu độc giả muốn chúng tôi tư vấn và đại diện pháp lý. VCI Legal không chịu trách nhiệm nếu một số độc giả sử dụng thông tin trong các BẢN TIN PHÁP LUẬT này để tự giải thích/áp dụng các quy định pháp luật